Trang chủ NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI

THIÊN THAI OAN KHUẤT GIĂNG MỜ
09:03 | 13/04/2020

Gia Bình, một núi, hai sông…

Những ngày cuối thu bầu trời xanh thẳm, trong veo, những dải mây mỏng như những chiếc khăn voan vắt ngang bầu trời, làn gió thu nhè nhẹ thoang thoảng hương lúa từ cánh đồng quê đang vào mùa thu hoạch. Xe chúng tôi chầm chậm chạy trên con đường về thăm di tích lịch sử, văn hoá tại huyện Gia Bình, một địa danh được coi là “miền đất chịu nhiều oan khuất”:

 “Gia Bình một núi hai sông

Bốn trang kỳ án, tam công đại thần”! 

Thiên Thai là dãy núi duy nhất thuộc địa phận huyện Gia Bình gồm 9 ngọn núi liền nhau có hình con rồng uốn lượn 9 khúc. Tương truyền: Ngày xưa rừng thông phủ kín núi, trên đỉnh ngọn Thiên Thai có một ngôi chùa cổ trăm gian và một vườn hồng đào, đây là một giống đào đặc biệt, hoa nở thành từng chùm buông xuống như những chiếc đuôi cáo nên mới có cái tên là Hồng đào. Ngày xuân khách lên lễ chùa vãn cảnh vườn đào, dạo chơi rừng thông rồi hướng ra biển đông “xem Loan Phượng ăn xoài”.

Núi Thiên Thai được nhắc nhiều trong các làn điệu Dân ca Quan họ “Trèo lên trên núi Thiên Thai, thấy chim Loan Phượng ăn Xoài Biển Đông”. Trong bài thơ Bên kia sông Đuống Nhà thơ Hoàng Cầm viết: “Ai về bên kia sông Ðuống/ Cho ta gửi tấm the đen/ Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên/ Những hội hè đình đám/ Trên núi Thiên Thai/ Trong chùa Bút Tháp”, và trong thơ Tố Hữu: “Chí ta như núi Thiên Thai ấy/ Đỏ rực chiều hôm dậy cánh đồng”....

Sông Đuống (còn gọi là sông Thiên Đức) là một con sông dài khoảng 70km, chảy qua địa phận tỉnh Bắc Ninh, nối sông Hồng và sông Thái Bình. “Em ơi buồn làm chi/ Anh đưa em về sông Đuống/ Ngày xưa cát trắng phẳng lỳ/ Sông Đuống trôi đi/ Một dòng lấp lánh/ Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ” (Hoàng Cầm). Sông Đuống, như hàng trăm năm nay vẫn hiền hòa, nghiêng nghiêng, ôm trọn trong mình biết bao huyền thoại, góp phần bồi đắp nên một nền văn hóa đặc trưng của mảnh đất Kinh Bắc giàu truyền thống, soi bóng những cây cầu hiện đại trong thời kỳ đổi mới và những đô thị đang chuyển mình mạnh mẽ, đổi thay từng ngày. Con sông thứ hai là sông Ngụ, con sông nhỏ phân chia ranh giới giữa huyện Gia Bình và huyện Lương Tài.

Giữa một vùng sông nước mênh mông và sự khoáng đạt của đất trời, cứ đi vài cây số, những người đam mê kiến trúc cổ và yêu thích lịch sử hẳn sẽ phải dừng chân khi bắt gặp những mái đình cổ kính, những ngôi chùa thâm nghiêm có niên đại hàng nghìn năm và những đền thờ các bậc danh nhân, anh hùng, hào kiệt của dân tộc ẩn chứa trong đó bao nỗi thăng trầm và cả những nỗi oan khuất trong bốn kỳ án trải hàng nghìn năm vẫn huyễn hoặc, mờ ảo dưới lớp bụi thời gian…

Kỳ án thứ nhất “Nỏ thần”: Tương truyền, Cao Lỗ (người làng Lớ, xã Cao Đức) là người chế ra nỏ liên châu, các mũi tên đều bịt đồng sắc nhọn, bắn một lần được nhiều mũi tên, còn được gọi là nỏ thần. 

Khi Triệu Đà cho quân xâm lược Âu Lạc, quân Triệu đã bị các tay nỏ liên châu bắn tên ra như mưa, thây chết đầy nội và phải lui binh. Đương thời, nỏ liên châu trở thành thứ vũ khí thần dũng vô địch của nước Âu Lạc.

Triệu Đà bèn lập xảo kế thông gia, cho con trai là Trọng Thủy lấy con gái An Dương Vương là Mỵ Châu. Cao Lỗ phản đối, khuyên vua không nên nhận, nhưng An Dương Vương không nghe ông mà nghe lời dèm pha của Lạc hầu. Cao Lỗ dần dần bị vua xa lánh, ông bỏ đi tìm nơi ở ẩn.

Sau khi Trọng Thủy biết được bí mật phòng thủ của An Dương Vương, về mách cho vua cha, Triệu Đà mang quân sang đánh Âu Lạc. An Dương Vương thua chạy. Quân Triệu đuổi theo. Cao Lỗ biết tin, ra đón đường chặn đánh quân Triệu cho vua chạy thoát nhưng do Mỵ Châu tin lời của Trọng Thủy, rải lông ngỗng theo sau để Trọng Thủy lần theo nên cả hai đã tử trận.

Trong bài thơ Tâm sự trả lời một bạn nước ngoài (in trong tập Ra trận, xuất bản 1972), của Nhà thơ Tố Hữu có đoạn: 

“Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu

Trái tim lầm chỗ để trên đầu

Nỏ thần vô ý trao tay giặc

Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu...”

Kỳ án thứ hai “Hồ Dâm Đàm”: Thái sư Lê Văn Thịnh nổi tiếng là người thông minh, hiếu học từ nhỏ. Năm 1075, triều đình nhà Lý mở khoa thi Minh kinh Bác học (là khoa thi đầu tiên của Văn Miếu, Quốc Tử Giám ở Thăng Long), ông đỗ đầu khoa thi, được tôn vinh là Trạng nguyên Khai khoa và được bổ nhiệm làm chức Thị Lang Bộ Binh, phụ trách dạy vua Lý Nhân Tông học. Năm 1084, vua Lý Nhân Tông cử ông đến trại Vĩnh Bình, biên giới Việt Trung (thuộc Cao Bằng ngày nay) để giải quyết vấn đề biên giới giữa hai nước. Với tài ngoại giao xuất sắc của ông, nhà Tống đã phải trả lại toàn bộ lãnh thổ đã chiếm đóng.

Lê Văn Thịnh được triều đình nhà Lý thăng chức Thái Sư, là chức vụ cao nhất trong triều.

Ông là người có tài, liêm chính, có tư tưởng đổi mới nên bị bọn nịnh thần ganh ghét, tìm cách hãm hại. Năm 1096, ông bị vu oan tội “hóa hổ giết Vua” tại hồ Dâm Đàm (Hồ Tây, Hà Nội). Trong buổi luận tội, các quan nịnh thần ghen ghét hùa vào bảo tội giết vua phải xử tội chết và tru di cửu tộc. Vì vua luôn kính trọng ông, người thầy uyên bác, trọng đức, trọng tài nên đã không xử tội chết, bắt ông đi đày ở Thao Giang, thuộc vùng đất Phú Thọ ngày nay. Đến khi già yếu, hơi tàn, sức kiệt ông tìm về quê hương nhưng đến xã Đình Tổ (thuộc Thuận Thành, Bắc Ninh) ông trút hơi thở cuối cùng. Nhân dân Đình Tổ trọng tài đức của ông, đã chôn cất ông cẩn thận. Quê hương nội, ngoại của ông và làng Đình Tổ, nhiều làng khác đã tôn ông làm Thành Hoàng làng.

Tại đền thờ Thái sư Lê Văn Thịnh (xã Đông Cứu) lưu giữ một tượng rồng bằng đá, nằm trong tư thế cuộn tròn đầu ngóc cao, miệng ngoạm vào thân, toàn thân có vẩy, đầu không có bờm râu, dáng nằm quằn quại, hai chân đang dùng những chiếc móng sắc nhọn như muốn xé toạc thân mình. Đặc biệt đôi tai, một bên thông, một bên bịt kín. Bức tượng nặng hơn 1 tấn, cao khoảng 0,9m, dài rộng mỗi chiều 1m. Từ bức tượng toát lên nỗi oan khuất ngút trời, sự đau đớn, vò xé, căm hận. Bức tượng đã lột tả tâm trạng oan khuất, bi oán, phản ánh được thông điệp của quá khứ gửi lại cho hậu thế về nỗi oan khiên của Thái sư Lê Văn Thịnh. Bức tượng này đã được công nhận là bảo vật quốc gia theo Quyết định số 2599/QĐ-Ttg ngày 30/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ. Sau khi các nhà khảo cổ phát hiện ra nhiều mảnh thân của các con Rồng khác nhau đã cho rằng con Rồng (nêu trên) có thể không liên quan gì đến Lê Văn Thịnh. Một số tượng Rồng ở khu vực núi này là của ngôi chùa cổ (thời Lý) trên núi Thiên Thai, sau khi bị đổ nát đã lăn xuống khu đền bên chân núi. Đã là 1 số con Rồng thì khó liên quan đến Lê Văn Thịnh.

Nhiều nhà khoa học nhận định vụ án “Lê Văn Thịnh hoá hổ” chỉ là một màn kịch, được những đối thủ của Lê Văn Thịnh dựng nên một kỳ án oan khiên nhất trong lịch sử Đại Việt. Tuy nhiên, ai đứng đằng sau màn kịch này, vẫn là câu hỏi lớn đối với các nhà nghiên cứu, các nhà sử học.

Kỳ án thứ ba “Vụ án Lệ Chi Viên”: Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, ngày 27 tháng 7 (âm lịch) năm Nhâm Tuất (1442), vua Lê Thái Tông đi tuần ở miền Đông, duyệt quân ở thành Chí Linh, Hải Dương. Nguyễn Trãi đón vua ngự ở chùa Côn Sơn, nơi ở của Nguyễn Trãi. Ngày 4 tháng 8 (âm lịch) vua về đến Lệ Chi Viên thuộc huyện Gia Định (nay thuộc thôn Đại Lai, xã Đại Lai, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh). Cùng đi với vua có bà Nguyễn Thị Lộ, một người thiếp của Nguyễn Trãi khi ấy đã vào tuổi 40, được vua Lê Thái Tông yêu quý vì xinh đẹp, lại có tài văn chương, luôn được vào hầu bên cạnh vua. Khi về đến Lệ Chi Viên, vua thức suốt đêm với bà Nguyễn Thị Lộ rồi mất.

 Triều đình đã quy cho Nguyễn Thị Lộ đầu độc vua Lê Thái Tông. Ngay sau khi thái tử Bang Cơ mới 2 tuổi lên nối ngôi (tức là Lê Nhân Tông), triều đình bắt Nguyễn Trãi tru di tam tộc (họ cha, họ mẹ, họ vợ), hơn bốn trăm người thuộc ba họ Nguyễn Trãi bị hành quyết vào ngày 16 tháng 8 (âm lịch) năm này.

22 năm sau, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan cho Nguyễn Trãi. Riêng với bà Nguyễn Thị Lộ, ông chỉ phê một câu: “Bà Lễ nghi học sĩ không can dự vào tội giết Vua”. 

Nguyễn Trãi vừa tài giỏi lại chính trực, mọi việc làm của ông đều là “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”, thế nhưng trong vương triều thì Nguyễn Trãi lại không hợp lòng nhiều người.

Các nhà nghiên cứu lịch sử cho rằng nguyên nhân đích thực của “kỳ án Lệ Chi Viên” là do Nguyễn Trãi biết Hoàng hậu Nguyễn Thị Anh mang thai trước khi vào cung, nếu Nguyễn Trãi tâu với vua thì Nguyễn Thị Anh sẽ bị tội chết, nên Nguyễn Thị Anh lập xảo kế giết vua rồi vu oan cho vợ chồng Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ.

Vụ án “Lệ Chi Viên” được xem là vụ án oan kinh hoàng nhất trong sử Việt, vô cùng thảm khốc đối với công thần Nguyễn Trãi, người hiền tài bậc nhất trong lịch sử dân tộc.     

Kỳ án thứ tư “Nàng Điểm Bích”: Huyền Quang tên thật là Lý Đạo Tái, thuộc dòng dõi quan lại nhà Lý, sinh năm Nguyên Phong thứ tư (1254), quê tại hương Vạn Tải, huyện Gia Định, nay thuộc thôn Vạn Ty, xã Thái Bảo, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.

Ông là người thông minh, hiếu học, năm 20 tuổi đỗ Hương cử, năm 21 tuổi đỗ đầu khoa Đại tỷ thủ sỹ, tức Trạng nguyên. Vua Trần thấy ông là người tài năng đức độ, đỗ đạt cao, muốn gả công chúa Liễu cho nhưng ông không nhận.

Ông có biệt tài biên soạn kinh sách. Sau 8 năm xuất gia, Huyền Quang được chủ trì chùa Hoa Yên, một trong những trung tâm tôn giáo lớn nhất đất nước đương thời, trên núi Yên Tử.

Bấy giờ trong triều có Điểm Bích, một cung nữ đang độ thanh xuân, tài sắc tuyệt vời. Vua chọn Điểm Bích làm người kiểm nghiệm sự chân tu của Huyền Quang và dặn: “Phải lấy được vàng của Huyền Quang, nếu lão tăng còn tình dục”. 

Từ kinh thành Thăng Long, Điểm Bích cùng một tiểu tì đến chùa Hoa Yên (Vân Yên), xin ở nhờ một bà vãi già. Lấy cớ xuất gia học đạo, ngày ngày nàng mang nước đến chỗ Thiền sư Huyền Quang. Một hôm, bịa ra chuyện cha nàng mang 15 cân vàng nộp công khố, bị kẻ gian lấy cắp, nay nhờ sư phát tâm làm phúc cho chút đỉnh để trọn đạo với cha, nếu không, cha nàng sẽ mang trọng tội. Vì lòng thương người, Huyền Quang lấy một nén vàng cho thị Bích.

Lấy được vàng, Điểm Bích trở về kinh đô, tâu vua: “Một hôm Thần thiếp đến bên cạnh phòng của sư Huyền Quang, xem sư làm gì. Thần thiếp thấy sư còn thức, vào phòng xin phép sư về thăm mẹ, sang năm lại đến học đạo. Sư giữ thần thiếp lại một đêm và cho thần thiếp một nén vàng”. Nghe xong, vua uất ức, sai mở hội Vô già, mời Huyền Quang về làm án pháp. Sư về đến Thăng Long, thấy sự thể, biết mình đã bị lừa. Sư ngửa mặt lên trời, than vãn, lạy ba lần; cúi xuống đất lạy ba lần; rồi đứng lên đàn tràng vọng bái mười phương. Vua thấy hình pháp của Sư còn thông thấu lòng người cùng trời đất, liền xuống đàn, xin lỗi sư và giáng thị Bích làm người quét chùa Cảnh Linh ở nội điện. Câu chuyện kỳ bí của vị Thiền sư tỏa hương thơm ngát cho muôn đời sau.

Thông điệp từ quá khứ

Đi dọc triền đê sông Đuống, dòng sông đỏ nặng phù sa  phủ sương mờ ảo, ẩn hiện mấy chiếc thuyền câu, núi Thiên Thai uốn lượn trong sương mù như còn ấp ủ nỗi niềm oan khuất... Chúng tôi vào đền thờ Thái sư Lê Văn Thịnh, rồi vào khu tưởng niệm Danh nhân văn hoá Nguyễn Trãi và Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ, thắp nén hương tưởng nhớ các bậc hiền tài của đất nước, ai nấy đều bùi ngùi, xao xuyến, nghe như văng vẳng bên tai lời cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khi nói về “Vụ án Lệ Chi Viên”: “Tội ác này lá rừng Việt không đủ để ghi. Vết nhơ đó nước biển Đông không đủ để rửa”. Bản Di bút của cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, do một doanh nhân hiến tặng, được treo trang trọng trên bức thuận, trong đền Lệ Chi Viên như lời tâm sự, chân tình đối với du khách: “Đất nước Việt Nam ta từ nhiều thế kỷ trước đến nay, đã có không biết bao nhiêu anh hùng cứu nước và xây dựng đất nước. Nguyễn Trãi là một trong những bậc anh hùng đó. Tiếc thay một vị anh hùng đáng tôn kính đó lại bị kết liễu cuộc đời một cách rất thương tâm. Bài học của Nguyễn Trãi mong rằng các thế hệ ngày nay và mãi mãi sẽ là tấm gương sáng soi chung: mọi người phải noi gương oanh liệt của Nguyễn Trãi và những người có chức có quyền không được đối xử với biết bao người có công với đất nước như những bọn tham quan ô lại trước kia đã đối xử với Nguyễn Trãi một cách bất công”. 

Ngẫm về bốn kỳ án trong lịch sử dân tộc, nhiều thế kỷ qua và mãi mãi về sau vẫn còn tiếp tục lay động tận đáy tâm can và làm rỏ máu trái tim người lương thiện, như một lời nhắc nhở về đạo ứng xử đối với trung thần nghĩa sĩ của dân tộc! 

Thời gian trôi đi, cuộc sống vẫn xoay vần, các giá trị tinh thần dân tộc, lòng trung trinh với đất nước và tâm hồn Việt vẫn ngời sáng và được tôn vinh theo đúng quy luật của sự sống! Các vụ kỳ án đã gieo rắc nỗi oan nghiệt cho bao bậc anh tài, đức sáng và nhiều người vô tội, nhưng tên tuổi Trạng nguyên khai khoa Lê Văn Thịnh, Anh hùng dân tộc, Danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Trãi và vợ là Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ, Huyền Quang Phật tổ Lý Đạo Tái và Cao Lỗ Vương... vẫn sáng láng, lung linh như những bức tượng đài trong lòng người dân Việt.

Trung tâm Xúc tiến Đầu tư Thương mại và Du lịch tỉnh Bắc Ninh đang nghiên cứu triển khai tour du lịch qua tuyến đê bờ nam sông Đuống được mệnh danh là “Triền đê oan khuất”. Tour du lịch đưa du khách đến với các di tích lịch sử văn hoá nổi tiếng trong vùng, gắn với “các nỗi oan thế kỉ”. 

Dù dự án mới đang trong giai đoạn trải nghiệm nhưng đã nhận được sự ủng hộ, đồng tình của nhiều người, trong đó có cả các chuyên gia trong lĩnh vực văn hoá du lịch. Việc mở các tour du lịch gắn với tìm hiểu những “nỗi oan thế kỉ” của các bậc hiền tài khi xưa là một ý tưởng rất đáng trân trọng, là phương thức trực tiếp trao truyền những kiến thức lịch sử đến với người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, giúp các thế hệ sau hiểu đúng, đánh giá đúng những kỳ án trong lịch sử; đồng thời là cây cầu kết nối thế hệ trẻ với quá khứ, lần giở những trang sử hào hùng mà các bậc tiền nhân đã ghi dấu năm xưa, làm giàu có thêm tri thức và tâm hồn; tăng thêm niềm tự hào và tình yêu quê hương, đất nước./.

                                                                                                                                                                                                                                    HỒNG MINH