Hà Thu
1. Một vài nét về lễ và hội
Lễ hội Việt Nam là sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng. "Lễ" là hệ thống những hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện. “Hội” là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống. Lễ hội truyền thống là hiện tượng lịch sử, hiện tượng văn hóa có mặt ở Việt Nam từ lâu đời và có vai trò không nhỏ trong đời sống xã hội. Hoạt động lễ hội như một bảo tàng sống về văn hoá đặc thù của dân tộc mang đặc trưng của đời sống vật chất, văn hoá tinh thần, hay nói cách khác là văn hóa vật thể và văn hoá phi vật thể của mỗi cộng đồng, dân tộc, của các vùng miền khác nhau đã được lưu truyền, kế thừa qua nhiều thế kỷ.
Việt Nam là đất nước có những lễ hội truyền thống đặc sắc, là điểm hẹn du lịch hấp dẫn thu hút khách du lịch quốc tế muốn tìm hiểu về văn hóa Việt trong đó có “Giỗ tổ” ở lễ hội Đền Hùng mà ít quốc gia trên thế giới có được là một ví dụ. Lễ hội truyền thống diễn ra ở nhiều địa phương trong cả nước và vào nhiều thời điểm khác nhau nhưng tập trung chủ yếu vào mùa xuân và mùa thu. Thông qua lễ hội, bản sắc văn hóa Việt đã được thể hiện rõ nét, góp phần hun đúc ý chí quật cường, lòng tự hào, tự tôn dân tộc. Lễ hội truyền thống Việt Nam có hai nội dung chính là phần lễ và phần hội. Hai yếu tố này quan hệ quan chặt chẽ với đời sống con người. Nghi lễ gồm các hoạt động tâm linh của con người mang tính chất linh thiêng, thần bí qua hoạt động thờ cúng, tín ngưỡng, tôn giáo. Hội là hoạt động của con người mang tính chất vui chơi, giải trí như chơi đánh đu, đánh còn, hát xướng, đấu vật, thi đấu cờ người, hát đối đáp, đua thuyền, đập nồi đập niêu, bịt mắt bắt dê, săn vịt trong ao, thi nấu cơm,... Nói đến lễ hội truyền thống ở Việt Nam, Bắc Ninh là một tiêu điểm được coi là vương quốc của lễ hội.
Những năm gần đây, trong bối cảnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá, với chủ trương, đường lối nhằm giữ gìn, bảo tồn những giá trị tinh hoa văn hóa dân tộc trước xu thế hội nhập quốc tế, có nhiều lễ hội truyền thống tiêu biểu ở các địa phương trong đó có Bắc Ninh đã được phục hồi và phát triển phù hợp với tình hình mới làm phong phú hơn đời sống văn hóa của người dân Việt. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, tốt đẹp trong việc phục hồi và phát huy lễ hội cổ truyền trong đời sống xã hội đương đại thì cũng không ít các vấn đề nảy sinh khiến xã hội cần phải nhìn nhận lại và tìm cách khắc phục để những giá trị tinh hoa của lễ hội cổ truyền được đẩy mạnh và phát huy, khắc phục dần các hạn chế, tiêu cực, hủ tục trong các lễ hội. Tùy vào từng thời điểm, vào chủ thể mà lễ hội hiện nay được tổ chức ở nhiều cấp độ khác nhau.
2. Cách thức tổ chức lễ hội
Thông thường địa phương nào mở hội cũng đều tiến hành theo ba bước sau: Chuẩn bị: Chuẩn bị lễ hội được chia thành hai giai đoạn. Giai đoạn chuẩn bị cho mùa lễ hội sau và khi ngày hội đã đến gần. Chuẩn bị cho mùa lễ hội sau được tiến hành ngay sau khi mùa hội trước kết thúc, mọi khâu chuẩn bị đã có sự phân công, cắt cử mọi việc để đón mùa lễ hội năm sau. Khi ngày hội sắp diễn ra, công việc kiểm tra lại đồ tế lễ, trang phục, quét dọn, mở cửa di tích, rước nước làm lễ tắm tượng (mộc dục) cùng các đồ tế tự, thay trang phục mũ cho thần...
Vào hội: nhiều hoạt động diễn ra trong các ngày lễ hội, đó là các nghi thức tế lễ, lễ rước, dâng hương, tổ chức các trò vui. Đây là toàn bộ những hoạt động chính có ý nghĩa nhất của một lễ hội. Lễ hội thu hút nhiều đối tượng hay ít khách đến với lễ hội, diễn ra trong nhiều ngày hay một ngày hoàn toàn chi phối bởi các hoạt động trong những ngày này.
Kết thúc hội (xuất tịch, giã đám, giã hội): Ban tổ chức làm lễ tạ, đóng cửa di tích.
Lễ hội truyền thống vì có tính chất đặc trưng cho tính cộng đồng nên nó có giá trị liên kết và biểu dương sức mạnh cộng đồng. Lễ hội nào cũng là của và thuộc về một cộng đồng người nhất định, là chất kết dính tạo nên sự cố kết cộng đồng. Lễ hội thể hiện sức mạnh cộng đồng làng xã, địa phương hay rộng hơn là quốc gia dân tộc. Họ thờ chung vị thần, có chung mục tiêu đoàn kết để vượt qua gian khó, giành cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Lễ hội cũng là nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hoá vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp dân cư; là hình thức giáo dục, chuyển giao cho các thế hệ sau biết giữ gìn, kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống quý báu của dân tộc theo cách riêng, kết hợp giữa yếu tố tâm linh và các trò chơi đua tài, giải trí... Lễ hội còn là dịp con người được giải toả, dãi bày phiền muộn, lo âu với thần linh, mong được thần giúp đỡ, chở che vượt qua những thử thách đến với ngày mai tươi sáng hơn.
Lễ hội là một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng - văn hoá cộng đồng của nhân dân ở nông thôn cũng như ở đô thị. Trong các lễ hội đó, nhân dân tự đứng ra tổ chức, chi phí, sáng tạo và tái hiện các sinh hoạt văn hoá cộng đồng cũng như hưởng thụ các giá trị văn hoá và tâm linh. Bởi thế, lễ hội bao giờ cũng thấm đượm tinh thần dân chủ và nhân văn sâu sắc. Khi tham gia lễ hội những khoảng cách phân hóa giữa con người như được xóa nhòa, cùng nhau hưởng thụ, đắm mình trong những giá trị văn hoá tiêu biểu mà lễ hội đem lại.
Lễ hội truyền thống là loại hình sinh hoạt văn hoá, sản phẩm tinh thần của người dân được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử. Người Việt Nam từ hàng ngàn đời nay có truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”. Lễ hội là dịp con người được trở về nguồn, nguồn cội tự nhiên hay nguồn cội của dân tộc đều có ý nghĩa thiêng liêng trong tâm trí mỗi người. Lễ hội cũng là sự kiện thể hiện truyền thống quý báu đó của cộng đồng, tôn vinh những hình tượng thiêng, được định danh là những vị “Thần, Thánh” - những người có thật trong lịch sử dân tộc hay huyền thoại. Hình tượng các vị thần linh đã hội tụ những phẩm chất cao đẹp của con người. Đó là những anh hùng chống giặc ngoại xâm; những người khai phá vùng đất mới, tạo dựng nghề nghiệp; những người chống chọi với thiên tai, trừ ác thú; những người chữa bệnh cứu người; những nhân vật truyền thuyết đã chi phối cuộc sống nơi trần gian, giúp con người hướng thiện, giữ gìn cuộc sống hạnh phúc...
Lễ hội có sức lôi cuốn, hấp dẫn và trở thành nhu cầu, khát vọng của người dân cần được đáp ứng và thoả nguyện qua mọi thời đại. Bởi vậy có thể nói bản chất của lễ hội là sự tổng hợp và khái quát cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân trong xã hội ở từng giai đoạn của lịch sử.
Môi trường của lễ hội truyền thống Việt Nam về cơ bản chính là nông thôn, làng xã Việt Nam. Lễ hội là môi trường thuận lợi mà ở đó các yếu tố văn hoá truyền thống được bảo tồn và phát triển. Những yếu tố văn hoá truyền thống đó không ngừng được bổ sung, hoàn thiện, vận hành cùng tiến trình phát triển lịch sử của mỗi địa phương trong lịch sử chung của đất nước. Nó chính là hệ quả của cả quá trình lịch sử của không chỉ một cộng đồng người. Đây chính là tinh hoa được đúc rút, kiểm chứng và hoàn thiện trong dọc dài lịch sử của bất cứ một cộng đồng cư dân nào.
Lễ hội cổ truyền là những cột mốc đánh dấu chu trình đời sống sản xuất và đời sống xã hội của mỗi cộng đồng người, mà một khi cái mốc mang tính lễ nghi đó chưa được thực hiện thì các quá trình sản xuất và quá trình xã hội đó sẽ bị đình trệ, sự sinh tồn và các quan hệ xã hội sẽ bị phá vỡ hay bị ảnh hưởng đến hoạt động lao động sản xuất của cả một năm. Ví dụ, người dân làng Mão Điền – Thuận Thành – Bắc Ninh phải thực hiện đầy đủ quy trình của nghi lễ “Hạ điền”: đầu tiên người chủ tế cắm cây nêu xuống ruộng, sau đó đến 5 cây lúa, cuối cùng là ba cây khoai nước tạo thành chữ “Điền”; cấy xong chủ tế té nước vào cây lúa và té vào người đứng vây quanh. Nếu sai quy trình thì không thể coi là hoàn thành nghi lễ cầu mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, dân an vật thịnh được. Trong lễ hội chùa Dâu bao gồm nhiều nghi thức và hoạt động khác nhau, trong đó cuộc thi “cướp nước” được đa phần du khách đến tham gia háo hức nhất. Đó là cuộc thi chạy giữa bà Sấm với bà Mưa. Người ta bói xem ai về đích trước để dự báo mùa màng. Nếu là bà Mưa thì năm ấy được mùa. Nếu là bà Sấm thì năm ấy ruộng đồng lắm sâu, nhiều đỉa, làm ăn trắc trở. Hay là lễ hội Kéo co làng Hữu Chấp cũng vậy: Mở đầu cuộc thi là các tiết mục ca hát mời nước, mời trầu của các anh hai, chị hai Quan họ làng Hữu Chấp. Tiếp theo, hai ông quan Đám và Đoàn tế dâng hương xin các vị thần cho phép mở trò chơi. Sau đó, những người tham gia lần lượt vào tế thành hoàng. Chiêng, trống được di chuyển ra trước cửa tòa Đại Đình để dùng làm hiệu lệnh cuộc chơi.
Hai đội bước ra trước sân đình, ai nấy đều lấy rượu xoa lên mặt để tạo khí thế bước vào cuộc thi. Khi dây kéo được đưa vào vị trí quy định, hai đội lần lượt vào vị trí trước sự cổ vũ của đông hội. Khi tiếng chiêng, tiếng trống rung lên, 4 ông tổng cờ cùng 4 ông vè cái đi kiểm tra quân số và dẹp đám đông, trấn an tinh thần cho các đội thi. Sau khi kiểm tra khoảng 3 vòng, thì cờ lệnh phất lên, cuộc thi bắt đầu. Các đội cố hết sức mình để giành phần thắng trong khí thế reo hò, cổ vũ của đông hội và chiêng trống rộn rã thúc giục. Đến vòng thứ ba, người dân xung quanh ùa vào kéo cho đội bên Đông, lại được góp sức của dân làng Cổ Mễ, Đẩu Hán. Vì vậy, bao giờ đội bên Đông đều giành phần thắng. Người dân Hữu Chấp tin rằng, phía bên Đông giành phần thắng thì năm đó lúa chiêm sẽ được mùa, dân an, vật thịnh. Và ai tham gia vào trò chơi này thì gia đình người thân sẽ gặp may mắn cả năm.
3. Các đặc trưng cơ bản của lễ hội truyền thống
So với các loại lễ hội khác, lễ hội cổ truyền mang 3 đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, lễ hội cổ truyền gắn với đời sống tâm linh, tôn giáo tín ngưỡng, nó mang tính thiêng liêng, thần thánh, do vậy nó thuộc thế giới thần linh, đối lập với đời sống trần gian, trần tục. Có nhiều sinh hoạt, trình diễn trong lễ hội nhìn bề ngoài là trần tục, như các trò vui chơi giải trí, thi tài, các diễn xướng mang tính phồn thực, nên nó mang tính “tục”, nhưng lại là cái trần tục mang tính phong tục, nên nó vẫn thuộc về cái thiêng, như tôn sùng sinh thực khí mà hội Trò Trám (Phú Thọ) là điển hình. Tính tâm linh và linh thiêng của lễ hội quy định “ngôn ngữ” của lễ hội là ngôn ngữ biểu tượng, tính thăng hoa, vượt lên thế giới hiện thực, trần tục của đời sống thường ngày. Ví dụ, diễn xướng ba trận đánh giặc Ân trong Hội Gióng và ở một số địa phương thuộc địa bàn huyện Tiên Du có thờ Thành hoàng làng là các tướng lĩnh thời Vua Hùng đánh giặc Ân cùng Thánh Gióng, diễn xướng cờ lau tập trận trong lễ hội Hoa Lư (Ninh Bình), diễn xướng rước Chúa gái (Mỵ Nương) trong Hội Tản Viên. Bắc Ninh có lễ rước pháo ở lễ hội làng Đồng Kỵ thị xã Từ Sơn; lễ cướp cầu – rước nước từ giếng đền Cùng ở làng Diềm – thành phố Bắc Ninh; lễ rước Phật Tứ Pháp của lễ hội Chùa Dâu – Thuận Thành; lễ rước nước ở Đền Kinh Dương Vương (Á Lữ - Thuận Thành); lễ hội Kéo co làng Hữu Chấp (Yên Phong); trò chơi Rồng rắn lên mây ở Cao Đức (Gia Bình); … Chính các diễn xướng mang tính biểu tượng này tạo nên không khí linh thiêng, hứng khởi và thăng hoa của lễ hội.
Thứ hai, lễ hội cổ truyền là một sinh hoạt văn hóa mang tính hệ thống tính phức hợp, một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể, bao gồm gần như tất cả các phương diện khác nhau của đời sống xã hội của con người: sinh hoạt tín ngưỡng, nghi lễ, phong tục, giao tiếp và gắn kết xã hội, các sinh hoạt diễn xướng dân gian (hát, múa, trò chơi, sân khấu…), các cuộc thi tài (đấu vật, nấu cơm, cờ người, kéo co,…), vui chơi, giải trí, ẩm thực, mua bán… Không có một sinh hoạt văn hóa truyền thống nào của nước ta lại có thể sánh được với lễ hội cổ truyền, trong đó chứa đựng đặc tính vừa đa dạng vừa nguyên hợp này.
Thứ ba, chủ thể của lễ hội cổ truyền là cộng đồng, đó là cộng đồng làng, cộng đồng nghề nghiệp, cộng đồng tôn giáo tín ngưỡng, cộng đồng thị dân và lớn hơn cả là cộng đồng quốc gia dân tộc. Nói cách khác không có lễ hội nào lại không thuộc về một dạng cộng đồng, của một cộng đồng nhất định. Cộng đồng chính là chủ thể sáng tạo, hoạt động và hưởng thụ các giá trị văn hóa của lễ hội.
Ba đặc trưng trên quy định tính chất, sắc thái văn hóa, cách thức tổ chức, thái độ và hành vi của những người tham gia lễ hội, phân biệt với các loại hình lễ hội khác như lễ hội sự kiện, Festival... Lễ hội cũng như bất cứ một hiện tượng văn hóa, xã hội nào cũng đều chịu sự tác động bối cảnh kinh tế - xã hội đương thời và nó cũng phải tự thích ứng biến đổi theo. Tuy nhiên, với loại hình lễ hội truyền thống thì ba đặc trưng nêu trên là thuộc về bản chất, là yếu tố bất biến, chỉ có những biểu hiện của ba đặc tính trên là có thể biến đổi, là khả biến để phù hợp với từng bối cảnh xã hội. Khẳng định điều này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với việc khôi phục, bảo tồn và phát huy lễ hội truyền thống trong xã hội hiện nay. Việc phục dựng, làm mất đi các đặc trưng trên của lễ hội cổ truyền thực chất là làm biến dạng và phá hoại các lễ hội đó.
4. Phát huy lễ hội cổ truyền trong giai đoạn hiện nay
Ngày nay, trong điều kiện xã hội hiện đại, con người càng ngày càng muốn khẳng định cái tôi cá nhân của mình nhưng không vì thế mà tính “cộng đồng” bị phá vỡ, nó chỉ biến đổi các sắc thái và phạm vi, con người vẫn phải nương tựa vào cộng đồng, có nhu cầu cố kết cộng đồng. Trong điều kiện như vậy, lễ hội vẫn giữ nguyên giá trị biểu tượng của sức mạnh cộng đồng và tạo nên sự cố kết cộng đồng ấy.
Tất cả mọi lễ hội cổ truyền đều hướng về nguồn. Hơn thế nữa, hướng về nguồn đã trở thành tâm thức của con người Việt Nam - “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây”. Chính vì vậy, lễ hội bao giờ cũng gắn với hành hương - du lịch.
Đời sống của con người hướng về cái cao cả thiêng liêng - chân thiện mỹ - cái mà con người ngưỡng mộ, ước vọng, tôn thờ, trong đó có niềm tin tôn giáo tín ngưỡng. Như vậy, tôn giáo tín ngưỡng thuộc về đời sống tâm linh, tuy nhiên không phải tất cả đời sống tâm linh cũng là tôn giáo tín ngưỡng. Chính tôn giáo tín ngưỡng, các nghi lễ, lễ hội góp phần làm thoả mãn nhu cầu về đời sống tâm linh của con người, đó là “cuộc đời thứ hai”, đó là trạng thái “thăng hoa” từ đời sống trần tục, hiện hữu.
Tìm về với văn hoá dân tộc, lưu giữ và phát triển những lễ hội truyền thống của con người hiện đại như một quy luật tất yếu bởi lễ hội đã thuộc về phạm trù thiêng liêng của đời sống tâm linh, đối lập và cân bằng với những trần tục của đời sống hiện thực.
Lễ hội không chỉ là tấm gương phản chiếu nền văn hoá dân tộc, mà còn là môi trường bảo tồn, làm giàu và phát huy nền văn hoá dân tộc ấy. Cuộc sống của con người Việt Nam không phải lúc nào cũng là ngày hội, mà trong chu kỳ một năm, với bao ngày tháng nhọc nhằn, vất vả, lo âu, để rồi “xuân thu nhị kỳ”, “tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ”, cuộc sống nơi thôn quê vốn tĩnh lặng ấy vang dậy tiếng trống chiêng, người người tụ hội nơi đình chùa mở hội. Nơi đó, con người hoá thân thành văn hoá, văn hoá làm biến đổi con người, một “bảo tàng sống” về văn hoá dân tộc được hồi sinh, sáng tạo và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Tôi đã nhiều lần tự hỏi, nếu như không có nghi lễ và hội hè thì các làn điệu dân ca như quan họ, hát xoan...; các điệu múa xanh tiền, múa rồng, múa lân...; các hình thức sân khấu chèo, tuồng, hát bội, rối nước, cải lương...; các trò chơi, trò diễn: Đánh cờ người, chọi gà, chơi đu, đánh vật, bơi trải, đánh phết, đua thuyền... sẽ ra đời và duy trì như thế nào trong lòng dân tộc suốt hàng nghìn năm qua. Và như vậy thì dân tộc và văn hoá dân tộc sẽ đi đâu, về đâu, sẽ còn mất ra sao?
Nằm trong tiến trình, dòng chảy văn hóa Việt. Các lễ hội truyền thống ở Bắc Ninh cũng mang trong mình những đặc trưng riêng biệt, độc đáo của vùng đất văn hiến Kinh Bắc. Từ xa xưa, với đặc điểm là cửa ngõ thủ đô của các triều đại, xứ Bắc Ninh với đặc trưng về văn hóa đình chùa và hơn 500 lễ hội truyền thống phần lớn theo tín ngưỡng phật giáo diễn ra vào tất cả các mùa trong năm là sự tiếp biến, tiếp nối miên man từ lễ hội này sang lễ hội khác cùng vô số các hoạt động văn hóa du xuân, trảy hội, lễ chùa… đã là địa điểm thu hút người dân từ khắp nơi nô nức về trẩy hội. Văn hóa lễ hội Kinh Bắc không chỉ đậm đà mà còn gìn giữ, chứa đựng nhiều nét đẹp truyền thống đặc sắc, độc đáo, khó có thể tìm thấy ở những địa phương khác.
So với nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước, lễ hội truyền thống ở Bắc Ninh thường bắt đầu từ rất sớm nhưng kết thúc lại khá muộn. Mùa xuân là mùa sôi động và dày đặc các lễ hội nhất trong năm. Mỗi lễ hội mang một sắc màu riêng với những nét đẹp khác nhau trong phong tục, lễ nghi, văn hóa truyền thống. Du khách sẽ được đắm mình trong những làn điệu dân ca Quan họ làm say đắm lòng người cùng rất nhiều trò chơi dân gian truyền thống như: thi đấu vật, kéo co, tổ tôm điếm, cờ tướng, cờ người, chọi gà, đu tiên, dệt vải, thi nấu cơm. Còn có những trò chơi đặc biệt như: Hội Chen (Nga Hoàng – Quế Võ); chạy gió (Việt Hùng); thi nói khoác (Đông An), rồng rắn lên mây,… Gắn liền với mỗi lễ hội còn có các chương trình biểu diễn nghệ thuật phục vụ du khách như: chèo, tuồng, hát xẩm, hát văn... Ngoài văn hoá tinh thần, du khách khi trẩy hội Bắc Ninh còn được thưởng thức nhiều sản vật, những món ăn đặc sắc: trầu têm cánh phượng, bánh phu thê, bánh khúc, bánh đúc riêu cua, cháo cá, bánh tẻ làng Chờ, nem làng Bùi, đậu gù Trà Lâm, chè kho Yên Phụ,…
Bắc Ninh vốn là mảnh đất được mệnh danh là “vương quốc của các lễ hội” nhưng tính đến nay, Bắc Ninh đã có các lễ hội là hội Lim, hội làng Đồng Kỵ, hội làng Diềm, hội kéo co làng Hữu Chấp... nằm trong danh mục các lễ hội được đưa vào Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Điều đó là động lực thôi thúc các nhà nghiên cứu, làm công tác văn hóa cần nỗ lực hơn nữa trong quá trình bảo tồn các lễ hội văn hóa tiêu biểu của mảnh đất Bắc Ninh – Kinh Bắc giàu truyền thống văn hiến.Vì thế, trong thời gian tới cần những giải pháp thiết thực hơn nữa trong tiến trình bảo tồn, phát huy những giá trị tốt đẹp của các lễ hội truyền thống cũng như kích cầu du lịch văn hóa tâm linh thông qua các lễ hội làng xã trên địa bàn tỉnh./.