Trang chủ Văn hiến làng quê Bắc Ninh - Kinh Bắc

Vấn đề giáo dục cho học sinh phổ thông trong tỉnh về Di sản văn hóa truyền thống tỉnh Bắc Ninh
15:28 | 26/02/2018

  TRẦN ĐÌNH LUYỆN

         1). Vốn giữ vai trò trọng yếu trong lịch sử dân tộc và văn hóa Việt Nam, tỉnh Bắc Ninh ngày nay – địa bàn cốt lõi của xứ Kinh Bắc cổ kính và văn hiến, hiện lưu giữ kho tàng văn hóa đồ sộ, vừa phong phú về số lượng, đa dạng về loại hình, mang nhiều giá trị lịch sử - văn hóa tiêu biểu của văn hóa dân tộc và nhân loại.

      Theo điều tra, thống kê phân loại của Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnh, Bắc Ninh hiện có các loại hình di sản văn hóa sau đây:

      a/ - Về văn hóa vật thể: Có tới 1500 di tích lịch sử văn hóa, bao gồm 425 ngôi đình, 475 chùa, 153 đền, 90 nhà thờ, 44 miếu, 40 nghè, 16 lăng, 4 văn chỉ, 1 văn miếu, 2 ngôi thành cổ, 4 địa điểm cách mạng, 2 địa điểm lịch sử…

      Trong số các di tích trên, nhà nước đã công nhận và xếp hạng 571 di tích (195 di tích cấp Quốc gia, 378 di tích cấp tỉnh). Trong đó 4 di tích được công nhận di tích Quốc gia đặc biệt (chùa Dâu, chùa Bút Tháp, chùa Phật Tích, Đền Đô và khu Lăng mộ các vua Lý ở Đình Bảng), 5 nhóm bảo vật Quốc gia (Tượng Phật A Di Đà bằng đá thuộc thời Lý ở chùa Phật Tích,; pho tượng Phật Bà Quan âm Thiên thủ, Thiên nhỡn ở chùa Bút Tháp; Ba pho tượng Phật Tam thế bằng đá ở chùa Linh Ứng; tượng rồng đá ở đền thờ Lê Văn Thịnh và Bia Xá Lợi tháp minh chú Thiên Chúng có niên đại 601, phát hiện ở chùa Huệ Trạch (xã Trí Quả).

      b/ - Về văn hóa phi vật thể: Bao gồm một số loại hình cơ bản sau đây:

      - Lễ hội truyền thống: có tới 547 lễ hội ở các làng xã, trong đó đã lập hồ sơ 8 lễ hội tiêu biểu và được nhà nước công nhận, lễ hội làng Diềm, lễ hội làng (nay là phường Đồng Kỵ là di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia, lễ hội kéo co làng Hữu Chấp được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đa Quốc gia.

      - Diễn xướng dân gian: Bắc Ninh có nhiều loại hình diễn xướng dân gian phong phú như tuồng, chèo, ca trù, rối nước, hát văn, chèo trải hê, Quan họ… Trong đó, Dân ca Quan họ được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, Hát ca trù được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Đáng lưu ý là một số loại hình diễn xướng dân gian là di sản riêng có của quê hương Bắc Ninh, như Dân ca Quan họ, Chèo trải hê, Trống cổ bộ Thị Cầu… Và các loại hình diễn xướng như hát tuồng, diễn chèo được nhiều nhà nghiên cứu xác định có nguồn gốc từ xứ Bắc – Bắc Ninh nên được gọi là Tuông Bắc hay Chiếng Chèo xứ Bắc…

       - Làng nghề truyền thống: Bắc Ninh nổi tiếng từ xưa là đất trăm nghề. Ngoài làm nông nghiệp, hầu như làng xã nào trước đây cũng có nghề phụ, nghề thủ công hay buôn bán. Đến nay, toàn tỉnh còn 62 làng nghề thủ công truyền thống, nổi tiếng như rèn sắt ở Đa Hội, Chạm khắc gỗ ở Phù Khê, Hương Mạc, Đồng Kỵ, đúc đồng ở Đại Bái, Quảng Bố, làm gốm ở Phù Lãng, buôn bán ở Phù Lưu, làm giấy ở Phong Khê, làm tranh dân gian ở Đông Hồ… Trong số các làng nghề trên có 4 làng nghề Nhà nước đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia. Riêng làng Tranh dân gian Đông Hồ - di sản độc đáo riêng có của Bắc Ninh đã được chính phủ cho phép lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp.

       - Còn phải kể tới nhiều di sản phong phú và đặc sắc của Bắc Ninh, như ẩm thực (ăn xứ Bắc, mặc xứ Kinh), trò chơi dân gian, các làng cười, chuyện cười, kho tàng ca dao, tục ngữ, truyền thuyết, chuyện kể dân gian, các giai thoại, nhiều phong tục tập quán giàu giá trị nhân văn, như kết chạ anh, chạ em giữa các làng, kết bạn giữa các bọn Quan họ, tục lên lão, các phong tục trong các ngày lễ, ngày Tết, trong cưới xin, tang lễ…

      Như vậy, Bắc Ninh – một trong những tỉnh có diện tích nhỏ nhất nước hiện nay, song đã lưu giữ khối di sản văn hóa đồ sộ, vừa phong phú về số lượng và loại hình, lại có giá trị đặc sắc về lịch sử - văn hóa. Hầu như làng xã, thị trấn, phường nào ở các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh cũng lưu giữ các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Trong đó có những di sản có giá trị Quốc gia và giá trị nhân loại.

     2). Từ khối lượng di sản văn hóa đồ sộ và đặc sắc nêu trên, đặt ra yêu cầu giáo dục cho học sinh phổ thông các cấp trong tỉnh như thế nào để các em không những hiểu được giá trị mà còn yêu quý, từ đó tham gia trực tiếp vào việc bảo tồn và phát huy trong cuộc sống đương đại.

        a/ - Trước hết nên những di sản văn hóa nào cần được đem truyền dạy ở các trường phổ thông trong tỉnh:

       Không chỉ truyền dạy cho các em tất cả các di sản văn hóa, mà phải cọn lọc theo các tiêu chí sau đây:

      -  Những di sản văn hóa tiêu biểu có giá trị Quốc gia và Quốc tế, trong đó ưu tiên những di sản văn hóa độc đáo, riêng có của Bắc Ninh, như Dân ca Quan họ Bắc Ninh, nghề làm Tranh dân gian Đông Hồ…

      -  Những di sản văn hóa vừa có giá trị tiêu biểu, vừa phổ biến ở các làng xã và đang được nhân dân bảo tồn phát huy, như lễ hội truyền thống, làng nghề thủ công, các di tích lịch sử - văn hóa, di tích cách mạng…

       - Những di sản văn hóa có sự hấp dẫn các em học sinh tìm hiểu khám phá, như rối nước, nghề làm tranh dân gian Đông Hồ, Dân ca Quan họ, các di tích lịch sử văn hóa và cách mạng tiêu biểu, nghề thủ công truyền thống, trò chơi dân gian…

        - Như vậy, trong phạm vi học sinh các trường phổ thông trong tỉnh, theo chúng tôi cần tập trung truyền dạy cho các em các di sản văn hóa tiêu biểu sau đây:

       -   Về di sản văn hóa phi vật thể:

       + Dân ca Quan họ Bắc Ninh.

       + Lễ hội truyền thống tiêu biểu và trò chơi dân gian như rối nước, kéo co, chạy dó, đập niêu, thổi cơm thi…

      +  Nghề và làng nghề thủ công truyền thống tiêu biểu – tức những làng nghề được nhà nước đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia.

       -  Về di sản văn hóa vật thể:

       + Các di tích lịch sử văn hóa được chính phủ xếp hạng Quốc gia đặc biệt, các bảo vật Quốc gia.

      + Các di tích lịch sử tiêu biểu như khu lăng mộ và đền thờ Kinh Dương Vương, hệ thống và di tích về chiến thắng Như Nguyệt.

      +  Các di tích về các danh nhân khoa bảng như Văn Miếu Bắc Ninh, nhà thờ các danh nhân khoa bảng ở các gia tộc, văn chỉ, đền thờ các nhà giáo tiêu biểu…

      +  Các di tích cách mạng tiêu biểu: Nhà lưu niệm và nhà trưng bày thân thế sự nghiệp cách mạng của đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Ngô Gia Tự, nhà giáo cụ Đám Thi (Đình Bảng), đình, chùa Đồng Kỵ…

      b/ - Trên cơ sở xác định được những di sản văn hóa cần giáo dục cho học sinh trong hệ thống các trường phổ thông, cần có những giải pháp có hiệu quả để thực hiện việc giảng dạy.

       Theo chúng tôi, cần thực hiện một số giải pháp sau đây:

       -  Trước tiên, ngành Giáo duc – Đào tạo tỉnh phải xây dựng chương trình  kế hoạch giáo dục di sản văn hóa vào các trường phổ thông trong tỉnh. Cần xác định đây là nội dung giảng dạy chính thức nằm trong Chương trình giáo dục lịch sử văn hóa địa phương cho học sinh phổ thông đã được phân bổ trong chương trình giáo dục – đào tạo ở các cấp hoc phổ thông.

       -  Trên cơ sở kế hoạch - Chương trình giáo dục được xây dựng, tiến hành biên soạn giáo trình giảng dạy và tài liệu học tập cho học sinh. Đây là công việc mới và khó, vì vậy để biên soạn được giáo trình giảng dạy và tài liệu học tập, cần huy động các chuyên gia, các nhà chuyên môn về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa tham gia. Trong công việc này, có vai trò quan trọng của Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnh trong việc tập hợp các nhà chuyên môn, các nghệ nhân, nghệ sĩ trên các lĩnh vực di sản văn hóa tham gia xây dựng giáo trình và tài liệu học tập. Trường Trung cấp Văn hóa - Nghệ thuật và Du lịch tỉnh với chức năng và kinh nghiệm trong giảng dạy di dản văn hóa, chắc chắn sẽ giúp Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch, Sở Giáo dục – Đào tạo tỉnh trong việc biên soạn giáo trình và tài liệu học tập về Di sản văn hóa tiêu biểu tỉnh cho học sinh phổ thông các cấp trong tính.

        - Việc biên soạn chương trình trước hết căn cứ vào các di sản văn hóa tiêu biểu  được xác định cần được giảng dạy, đồng thời căn cứ vào từng cấp học mà biên soạn cho phù hợp với học sinh từng lớp, từng cấp. Giáo trình giảng dạy cần đặc biệt quan tâm tới các giáo cụ trực quan ( bản đồ, sơ đồ, hiện vật, hình ảnh…), đặc biệt sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy.

       - Việc giảng dạy các do sản văn hóa, cần có sự phối hợp tham gia của các nhà chuyên môn về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, các cán bộ bảo tàng, quản lý di tích, các nghệ nhân, nghệ sĩ về Dân ca Quan họ Bắc Ninh, Tranh dân gian Đông Hồ, về đúc đồng, làm gốm, chạm khắc gỗ, múa rối nước …

       - Trong chương trình giảng dạy, cần có những chương trình trải nghiệm thực tiễn cho học sinh. Đó là các cuộc quan gia các di tích các bảo tàng, các lễ hội truyền thống, các sinh hoạt văn hóa Quan họ, các làng nghề… Để các học sinh có thể trực tiếp được trải nghiệm vào các lễ hội, học hát Quan họ, in tranh dân gian Đông Hồ, nặn khuôn đúc đồng, làm đồ gốm …

        -  Nội dung giảng dạy các di sản văn hóa cần gắn với các di sản văn hóa tiêu biểu ở các địa phương. Chẳng hạn ở thị xã Từ Sơn là các di sản văn hóa về nhà Lý, về truyền thống các mạng về làng nghề và di tích cách mạng; Ở thành phố Bắc Ninh là di sản về văn hóa Quan họ, về truyền thống khoa bảng (làng Tiến sĩ Kim Đôi, Văn miếu Bắc Ninh); Ở Thuận Thành là di sản văn hóa về Kinh Dương Vương, về các di tích chùa tháp, về làng tranh dân gian Đông Hồ; Ở huyện Yên Phong là di tích về chiến thắng Như Nguyệt… Ở huyện Tiên Du là di sản văn hóa về truyền thống khoa bảng, về lễ hội Lim, hội chùa Phật Tích, về các làng nghề…

      Giáo dục di sản văn hóa trong các trường phổ thông là công việc mới và khó. Theo suy nghĩ chủ quan chúng tôi mong được góp bàn cùng các nhà chuyên môn và lãnh đạo quản lý giáo dục, mong tìm được những giải pháp khả thi để việc giảng dạy các di sản văn hóa tiêu biểu của tỉnh Bắc Ninh cho học sinh phổ thông các cấp đạt hiệu quả, góp phần xây dựng và phát triển văn hóa, con người Bắc Ninh, đáp ứng yêu cầu phát triền bền vững đất nước theo tinh thần Nghị quyết Trung ương IX (khóa XI) của Đảng./.