Trang chủ Kiến trúc Lý luận

Vài suy nghĩ về bản sắc dân tộc trong kiến trúc Việt Nam
03:03 | 15/06/2016

Trong những năm qua, chúng ta đã chứng kiến những bước phát triển vượt bậc về quy hoạch, về công trình so với nhiều thập niên cũ cộng lại cả ở đô thị cũng như nông thôn, cả trong phạm vi toàn quốc và ở từng địa phương. Bộ mặt kiến trúc đô thị đã dần thay đổi, nhiều công trình kiến trúc đẹp hơn, nhiều đường phố, nhiều khu ở đã gọn ghẽ khang trang hơn.

Tuy nhiên chúng ta không thể không thừa nhận nhiều công trình (nhiều đến mức phổ biến) là các trang trí cầu kỳ, chắp vá, nhặt nhạnh, pha tạp đông, tây, kim cổ. Kiến trúc đô thị nặng về tự phát, khu nhà ở, đường phố lẫn lộn, manh mún, thiếu tổ chức, thiếu thiết lập được những không gian có trật tự, hài hòa. Bản sắc dân tộc cũng như sắc thái địa phương, vùng miền ít thấy, thậm chí không thấy trong ngôn ngữ kiến trúc. Một bức tranh như vậy đang đặt ra một nhiệm vụ cấp bách và nặng nề, không những cho giới Kiến trúc sư sáng tác, mà còn cho cả những nhà quản lý, hoạch định chính sách và toàn thể cộng đồng. Trăn trở cho một nền kiến trúc hiện đại, tiên tiến giàu bản sắc dân tộc là đề tài vừa nóng bỏng, vừa lâu dài đã thu hút bao nhiêu tâm lực của các Kiến trúc sư cũng như các nhà nghiên cứu. Và cũng bao nhiêu cuộc Hội thảo, bao nhiêu trang viết dành cho vấn đề cốt tủy và hiểm hóc này. Một lần nữa hội thảo này được đề cập, thật đáng hoan nghênh và trân trọng.

Nói bản sắc dân tộc, nếu như không hình dung, không phác họa ra cái hình hài, cái cốt lõi, cái đặc trưng của nghệ thuật Kiến trúc dân tộc, hay kiến trúc bản địa, vùng miền thì thật là khó bàn. Và một khi khó bàn thì tính định hướng, tính dẫn dắt… đâu còn mấy giá trị? Chính vì lẽ đó, chúng ta đang chờ đón một cách trân trọng kết quả dù mới là bước đầu những nghiên cứu, những tổng kết đánh giá được rút ra những giá trị nhân bản, cốt lõi của kiến trúc truyền thống, kiến trúc dân tộc đã được trải nghiệm nghiêm ngặt của thời gian cả trong kiến trúc quy hoạch cũng như kiến trúc công trình. Trong đó đã chú trọng gạn lọc những tinh hoa mà cha ông ta đã để lại về bố cục không gian, về tỷ lệ hình khối, về kết cấu đến sử dụng vật liệu, đến trang trí nội ngoại thất… đảm bảo cân bằng, hài hòa với thiên nhiên, với khí hậu phục vụ tối đa nhu cầu sử dụng, nhu cầu sinh hoạt vật chất và tinh thần của con người Việt Nam. Tuy nhiên không thể chờ đợi trong khi cuộc sống vẫn diễn ra với nhịp điệu của nó, quá trình xây dựng vẫn hối hả từng ngày. Vả lại bản sắc truyền thống, dân tộc biểu hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, kể cả những khía cạnh cơ bản, vì vậy có thể bắt tay ngay làm trước được mà trong quá trình sáng tạo kiến trúc không thể không chú ý, không nghiên cứu phát huy.

1. Một trong những vấn đề chính yếu, đặc trưng của bản sắc dân tộc chính là sự phù hợp với thiên nhiên, khí hậu. Sáng tạo một không gian phục vụ con người, thỏa mãn tối đa điều kiện sống của con người không thể thoát ly những yếu tố thiên nhiên, vùng nhiệt đới nóng ẩm. Những yếu tố có lợi, có hại cho hoạt động của con người đòi hỏi Kiến trúc sư phải nhận định rạch ròi, phải thấu hiểu sâu sắc, nhằm tận dụng tối đa những mặt thuận lợi và hạn chế cao nhất mặt bất lợi. Trong thiết kế quy hoạch cũng như công trình, chúng ta đã bắt gặp đâu đó những khu nhà ở, những đường phố lộng gió, khai thác một cách khéo léo mặt nước, cây xanh, núi đồi, những ngôi nhà quy mô khiên tốn nhưng đã hạn chế đáng kể nắng chói và bức xạ mặt trời, vẫn đảm bảo thông thoáng, thoát ẩm, hạn chế cái giá buốt mùa đông.

Ngược lại không ít những công trình đã “chụp sao” từ vùng xứ lạnh, xứ mát áp đặt cho vùng nóng ẩm chúng ta. Người ta đưa ngôi nhà đặt trong hộp kính, bất kể hướng nào và hy vọng sự thông thoáng lệ thuộc quá mức vào các thiết bị quạt gió hay điều hòa không khí. Và rồi không ít các công trình đó phải cải tạo, phá đi làm lại - Bài học đắt giá cho các ông chủ, âu cũng là mừng.

Nhân dân ta có nhiều kinh nghiệm trong vấn đề này. Đã chọn thế đất theo luật phong thủy. Đã mở toang cửa lấy gió hướng Đông Nam (ở đồng bằng Bắc Bộ) nhằm tạo ra luồng gió mát tốt nhất; đã tạo mái che vừa chống nóng, chống dột, chống hấp thụ nhiệt một cách có hiệu quả, và cũng đã tạo ra mái hắt, tấm chắn như giàn cây, phên đã hạn chế đáng kể tia nắng trực tiếp cũng như bức xạ mặt trời. Ngược hẳn với một số công trình gần đây, người ta dùng mái bằng, bê tông cốt thép để trần hoặc có chống nóng một cách sơ sài bằng các vật liệu tiếp tục lấy nhiệt. Cũng có nhiều trường hợp áp dụng nguyễn mẫu các lớp cấu tạo mái ở các nước xứ lạnh, và kết quả chống nóng, chống thấm dột đều không có hiệu quả ở xứ sở nắng gắt, mưa nhiều. Tương tự như vậy, ở các đường phố, vỉa hè, quảng trường… với lập lý hiện đại, các sáng tác gia đã bê tông hóa, nhiệt hóa tràn lan, những vật liệu mà hệ số hấp thu nhiệt rất lớn đã làm tăng lên sự ngột ngạt, oi bức chừng nào.

Những giải pháp kiến trúc thiết ứng với thiên nhiên nhiệt đới, với khí hậu nóng ẩm, gió mùa trên cơ sở hiểu biết sâu sắc khoa học về khí hậu, về mối quan hệ giữa thiên nhiên và cuộc sống con người là một phong cách, là một khía cạnh chính yếu của bản sắc dân tộc trong kiến trúc.

2. Một trong dấu ấn quan trọng của bản sắc là kiến trúc phải đáp ứng với đòi hỏi, với nhu cầu sống của người Việt Nam. Mỗi dân tộc đều có sắc thái văn hóa riêng mà biểu hiện trước hết là phong tục, tập quán, nếp sống… Đó là quá trình ứng xử của con người với thiên nhiên, ứng xử con người với con người. Bởi thế, kiến trúc quy hoạch và công trình không thể không phù hợp với phong tục, tập quán, nếp sống cũng như các nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng… của cộng đồng nói chung, của làng xã, của gia đình, dòng họ nói riêng. Đương nhiên khái niệm văn hóa ở đây là khái niệm động. Bản thân nó cũng có thể kế thừa, phát huy những mặt nổi trội về thẩm mĩ, mặt tích cực cũng là quá trình sàng lọc để rồi tiếp thu, hòa đồng với những mặt tiên tiến, hiện đại để bổ xung ra đời một nét văn hóa mới của người Việt Nam đương đại. Nghệ thuật kiến trúc cũng không thể thoát ra khỏi cái vòng xoáy mang tính khách quan, quy luật ấy.

Bởi vậy, thế nào chăng nữa, kiến trúc có bản sắc là kiến trúc thể hiện ở công năng, ở độ tiện nghi, ở thẩm mỹ… Phải thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần ngày một cao của người Việt Nam, của người sử dụng nó. Chúng ta đã từng cảnh báo không thể mang “nhà ống” về nông thôn và cũng không thể mang nhà đất đô thị lên miền núi thay thế nhà sàn. Nhiều Kiến trúc sư cũng đã thừa nhận không thể thiếu nơi thờ cúng tổ tiên trong nhà ở. Ở đô thị không thể sơ lược, bỏ qua những yếu tố tín ngưỡng, tâm linh như đường cụt, đường đâm vào cửa chính, góc ao… rồi đến những công trình xã hội như nghĩa địa, bãi rác, các công trình vệ sinh khác…

Tâm hồn Việt Nam với những quan hệ cộng đồng truyền thống như quan hệ làng, xã, láng giềng, dòng tộc… rồi đến gia đình tam đại, tứ đại… chúng đã gạn lọc được những gì? Loại ra những gì pha tạp, cũ kỹ mà xã hội ngày nay không chấp nhận nữa. Còn đâu là phong cách, đâu là giá trị nhân văn, là mỹ tục mà ở đó quy hoạch của chúng ta, công tình của ta đã khắc họa, đã biểu hiện một cách duyên dáng nhất, Việt Nam nhất.

3. Một biểu hiện không thể thiếu của bản sắc kiến trúc dân tộc là khai thác, kế thừa, phát huy những thức hệ, tỷ lệ, những bố cục không gian, hình khối, nhịp điệu, những họa tiết, cách sử dụng vật liệu, mầu sắc… mà cha ông ta đã sáng tạo, gạn lọc, đúc kết thành những chuẩn mực đích thực, gần gũi với đời sống người Việt Nam. Học hỏi cách thức ấy không có nghĩa là sao chép, lặp lại đơn thuần mà đòi hỏi người sáng tác phải hiểu nhuần nhuyễn để thâu tóm được cái hồn, cái tinh hoa của người xưa mà vận dụng một cách phù hợp với hoàn cảnh, với yêu cầu mới, với đặc điểm kinh tế - xã hội ngày nay. Muốn vậy, việc phân tích, đúc kết, đánh giá, hệ thống hóa để rút ra những chuẩn mực, những giá trị làm cơ sở cho việc kế thừa, phát huy là một đề tài lớn, đòi hỏi đầu tư công của. Song những gì sai lầm, đặc biệt là sai lầm trong quy hoạch đô thị chắc phải trả giá hơn nhiều.

Hiện nay vấn đề đô thị - nông thôn nặng nề hơn nhiều so với kiến trúc công trình. Những tỷ lệ đẹp của kiến trúc cung đình Huế, cách bố cục không gian linh hoạt, đưa cây xanh, tiểu cảnh vào trong nhà, trong kiến trúc quy hoạch. Cũng như cách chống nóng, chống mưa có hiệu quả của các dạng mái che. Các cách chống bão vùng ven biển, chống gió nóng (gió Lào) vùng miền Trung; chống ẩm, chống rêu mốc vùng lung thũng miền núi. Cùng với những căn nhà quy mô thấp tầng, lụp xụp ở địa hình đồi núi cao có độ dốc lớn dưới những tán lá xum xuê. Kế thừa phát huy những giá trị truyền thống của kiến trúc dân tộc với những gạn lọc tinh hoa, thâu lượm cho được “cái thần”, “cái hồn” của nghệ thuật ấy một cách nhuần nguyễn trong tầm kiến thức mới, kiến thức hiện đại, tiên tiến. Xét cho cùng cũng là kết tinh của trí tuệ loài người mà ta có được qua học hỏi của Tiền nhân, của các nước tiên tiến nhằm từng bước hình thành nền kiến trúc vừa hiện đại, vừa giàu bản sắc dân tộc. Đó cũng là nguyện vọng, cũng là yêu cầu, là lương tâm nghề nghiệp của Kiến trúc sư và tất cả chúng ta./.

Phạm Đình Nghĩa