Trang chủ Âm nhạc Lý luận

TỪ NGỮ, ĐIỂN TÍCH CỦA CÂU "PHÙNG QUAN TẾ HỘI"
11:09 | 01/06/2018

 THANH HẢI


          Thị Cầu là làng quan họ có phong cách riêng so với các làng Quan họ khác bởi hầu hết các giọng Quan họ do người Thị Cầu sáng tác mang đậm chất Tuồng, do đã tiếp thu, kế thừa và sáng tạo từ các làn điệu của hát Tuồng. Từ tích tuồng "Lã Bố hý Điêu thuyền" các cụ sáng tác câu“Chinh boòng chinh” và câu "Phùng quan tế hội".

Trong canh hát mùng 6 tết năm nay tại tư gia của liền anh Nguyễn Văn Trọng - Chủ nhiệm Câu lạc bộ quan họ Thị Cầu có thêm sự xuất hiện của nhiều vị khách quý phương xa tới. Sau chặng lề lối, chuyển sang giọng vặt, đôi nghệ nhân Nguyễn Văn Cầu và nghệ nhân Nguyễn Khắc Bốt đã ca rằng:

 Phùng quan tế hội đối (i i) nhân (i hì í) duyên (a la hì í hi ). Mã ra (á a) truyền (hự là). Phận (a) tương liền (là), phận là tương lai. Đáo nhất mai (chứ đáo ứ hừ nhất mai), xuân hữu (í) xuân khai, (a la hì í hi) Lương xuất (a) cống phồ, cống phồ đi đàn lưu thủy (í i i) song (í i i). Thỉnh đường quy, Hoàng thiên (răng a) nhất nhật. Kìa như Châu Sương (á chi) lão Bành (là) Cộng (rằng) suý vân vô nhị đằng vân. Tài hồi (a) tài hồi, lương quan chi bất tái ( í i i rằng í i i) Nãi (a) chính nãi (a hề) cầu phong (a la hì í hi)

Khi các cụ vừa ca dứt, hai vị khách quý là Nghệ sỹ ưu tú Xuân Mùi – Nguyên Phó giám đốc Nhà hát Quan họ và Nhà nghiên cứu dân gian Nguyễn Hùng Vĩ (Trường Đại học Khoa học và nhân văn) đã cùng bình giải ca từ như sau:

"Gặp người trong hội này, đối nhân duyên

Rằng như kết giao khi ngồi trên lưng ngựa vậy.

Có duyên phận thì kết lại với nhau, không có có duyên phận thì cách xa

Thấy một cành mai nở là biết mùa xuân đã mở ra

Mời chàng về có ông trời làm chứng

Đây phố Hành Dương, kia bến Bành Lễ.

Cùng nước mây (một sắc liền trời)

Không cưỡi mây được, không lo thuyền được.

Trở lại, trở lại, người đến đi rồi sao không trở lại

Mà rồi để ngóng tin tức của nhau".

Nhà nghiên cứu dân gian Nguyễn Hùng Vĩ giải thích những từ ngữ của câu quan họ này như sau:

- Về chữ phùng quan tế hội thì chứ quân đúng hơn vì quân là người kiểu tôn xưng. Trung Quốc xưa, các vương tôn, các mạnh thường quân thường tổ chức các hội lớn quy tập anh hùng kẻ sĩ đến gặp gỡ giao lưu, ca xướng và sáng tác. Gặp nhau rồi chia tay trong các cuộc gặp đó là đề tài du hành - hội kiến - lâm biệt thường gặp trong thơ phú xưa. Chữ quan chắc là trại từ chữ quân, tuy nhiên cũng có thể hiểu quan đây là gọi tắt quan họ.

- Nếu hát là đối lâm ly có thể hiểu các ý như: đối ca, đối diện, đối tâm, đối ẩm, đối thoại... nhưng cũng có thể là mặt đối mặt thắm thiết.

- Chữ Mã giao truyền còn phân vân. Truyền là kể rằng, chúng tôi dịch là rằng như là ổn. Nhưng mã giao có thể là kết bạn trên lưng ngựa, chỉ việc làm quen nhau chóng vánh trong điều kiện không thuận lợi, mỗi người một đường. Cũng có thể mã giao là một ngữ liệu cổ điển nào đó chăng. Các cụ hát chữ lai câu này chắc là sai vì ý văn không thông, đổi sang ly mới trọn ý.

- Ngày xưa để ghi các nốt nhạc dành cho nhạc cụ, với điệu thức các cung đàn thì người ta ký âm bằng Lưu, Hồ, Cống, Xế, Xàng, Xư. Cũng giống như phương tây ghi Đồ, Rê, Mí, Pha, Son, La, Si. Khi hát, các cụ dùng những nốt này hát xen vào câu thay cho nhạc lưu không. Lâu ngày nó thành một trong những loại tiếng đệm chứa chan trong kỹ thuật hát Quan họ. Trong quá trình hát, lưu đã trại thành lương và chữ xế cuối được chủ động hát thành thủy cho có tí nghĩa, vả lại, lưu thủy cũng là một làn điệu xưa phổ biến trong ca hát.

- Châu Sương và Lão Bành: về ý rất gần với ý của một đoạn trong bài Đằng vương các tự của Vương Bột đời Đường: “Lạc hà dữ cô vụ tề phi, thu thủy cộng trường thiên nhất sắc. Ngư chu xướng vãn, hưởng cùng Bành Lễ chi tân. Nhạn trận kinh hàn, thanh đoạn Hành Dương chi phố “ nghãi là: Ráng mây cùng chiếc cò cùng bay trong nước mùa thu cùng trời cao một sắc. Lão ngư hát giữa chiều, vang tận bến Bành Lễ, Hàng nhạn bay tránh rét, tiếng kêu đứt phố Hành Dương. Vì Châu Sương và Lão Bành không có mối liên hệ gì cho nên câu hát không thông ý được. Chúng tôi cho rằng, trong quá trình truyền miệng, dương đã biến thành sương. Hành Dương phố là phố ở Châu Dương vậy.

Nhà nghiên cứu dân gian Nguyễn Hùng Vĩ cũng cho rằng việc tái lập một lời văn trong ca hát dân gian nhiều khi khá khó vì dị bản qua quá trình truyền miệng. Về ca từ này có xuất hiện trong điệu Múa bông của nhã nhạc cung đình Huế. Trong câu ca trên, có một số chỗ cần chỉnh lí lại để sát với nội dung lời ca, nghĩa gần sát nhất như sau:

"Phùng quân tế hội đối nhân duyên

Mã giao truyền

Phận tương liền, vô phận tương ly

Đáo nhất mai, sở hữu xuân khai 

Lưu xế cống hồ, cống hồ xư xàng lưu thủy xang

Thỉnh đường quy, hoàng thiên nhất nhật

Kìa Hành Dương, Bành Lễ

Cộng thủy quân vô nhị đằng vân

Cộng thủy quân vô liệu thuỷ quân

Tái hồi, tái hồi, lương quan chi bất tái

Nãi chính nãi cầu phong".

Hát Quan họ là một quá trình rèn luyện phức tạp và lâu dài. Người hát Quan họ phải tìm mọi cách, mọi cơ hội để học câu hát: học truyền khẩu những giọng hát sẵn có của những nghệ nhân đi hát lâu năm, học từng bài, từng giọng. Vì hát truyền khẩu nên có nhiều khi người hát đã hát lệch câu và khác nghĩa so với bài gốc của các nghệ nhân

Tuy là lối hát dân dã song câu Phùng quan tế hội là một giọng nổi tiếng khó vì từ tuồng đi vào dân gian, hát có bài bản và mang tính bác học, mang âm Hán Việt thể hiện trí tuệ và học vấn của cổ nhân qua cách xử lý giai điệu, thuật hãm âm, mở tiếng những biến tấu nhất định để phù hợp với âm nhạc quan họ.

Thiết nghĩ, chuyện bình giải lời ca quan họ, tìm điển tích cho quan họ đã khó, lại bình giải lời Hán Việt thực càng khó thêm, người hát không có giọng ca tốt, thiếu nhiệt huyết và đam mê thì không thể theo lâu dài các canh hát đối đáp truyền thống mà các nghệ nhân đã từng theo đuổi. Đi tìm ý nghĩa ca từ và điển tích trong các giọng quan họ Bắc Ninh là điều rất cần thiết, đúng như NSUT Xuân Mùi từng nói: “muốn yêu Quan họ phải hiểu Quan họ”.