Trang chủ CHÂN DUNG VĂN NGHỆ SỸ

TRỌN ĐỜI VỚI DÂN CA QUAN HỌ BẮC NINH
14:37 | 30/11/2018

 Tôi quen biết NSƯT Lệ Ngải rất lâu nhưng chỉ biết chị là một giọng hát Quan họ nổi tiếng của vùng Kinh Bắc. Chỉ cần vào you tube gõ tên chị thì sẽ được nghe rất nhiều bài Quan họ ngọt ngào của đôi liền chị Lệ Ngải, Minh Phức (Mẹ đẻ của NSND Lự Long). Thế rồi một ngày mùa thu mát mẻ tôi đến thăm chị, được vợ chồng chị đón tiếp rất niềm nở. Tôi may mắn được chị trải lòng những buồn vui của cuộc đời gắn liền với Quan họ cho đến tận bây giờ.

NSƯT Lệ Ngải, tên thật là Nguyễn Thị Ngải, sinh năm 1951 ở làng Nội, xã Hiên Vân, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Chị sinh ra trong một gia đình có truyền thống văn hóa, bố đẻ chị là nghệ nhân Quan họ Nguyễn Đức Xôi, ông bà nội, mẹ đều có năng khiếu và yêu thích dân ca Quan họ. Các cụ thường tham gia hát trong những dịp hội làng và các hoạt động văn hóa ở địa phương. Chị lớn lên trong lời ru của bà, của mẹ nên những lời ca tiếng hát ngấm vào từng đường da thớ thịt. Ngay từ khi còn nhỏ, Lệ Ngải đã học hát Quan họ Bắc Ninh từ bà, từ mẹ và tham gia nhiều Hội diễn văn nghệ quần chúng do địa phương tổ chức. Với nghệ nhân Lê Dân (Bất Lự) thì bất kỳ một sáng tác mới nào cũng chỉ có đôi Lệ Ngải, Minh Phức biểu diễn thì lời ca tiếng hát mới được chắp cánh nên hai chị luôn là đôi chị hai hát đôi nổi tiếng từ thuở thiếu niên. Mắt chị long lanh khi nhớ về tuổi thơ:
- Dạo ấy còn nhỏ, lại thích hát nên cụ Lê Dân cứ có bài hát nào mới lại đưa hai chị em đi biểu diễn. 
 Năm 1969, tốt nghiệp trường cấp II Hiên Vân, Lệ Ngải nộp đơn thi vào Trung cấp Sư phạm Hà Bắc. Cái ngày chị đi khám sức khỏe để vào trường sư phạm đã đánh dấu bước ngoặt cuộc đời. Bố chị bảo:
- Con không đi sư phạm nữa. Bố đã làm hồ sơ cho con vào Đoàn Dân ca Quan họ Hà Bắc rồi. Hôm nay con đi khám sức khỏe để hoàn thiện hồ sơ vào làm diễn viên. 
Theo cụ, chị là một người có giọng ca trời phú, đã quen với sân khấu khi đi biểu diễn từ nhỏ. Lại nữa, ông là một trong hai người đứng đầu Đoàn quan họ, vì vậy con cháu mình nên gương mẫu xây dựng đoàn thì mới tuyển được nhiều diễn viên khác. Chị là thế hệ thứ hai của đoàn, sau 7 anh chị (Bún, Nghị, Lập, Mùi, Lan, Lẫm, Phức). Bẩy anh chị thế hệ đầu tập trung ở nhà bố chị vừa học vừa biểu diễn do bố chị truyền dạy. 
Tháng 5 năm 1969 chị được Sở văn hóa giới thiệu đi học ở trường văn hóa nghệ thuật Hà Bắc. Sau khi ra trường, cuối năm 1970 chị được chọn vào đoàn văn công xung kích đi phục vụ chiến trường. Với nhiệt huyết của tuổi trẻ, chị náo nức chuẩn bị cùng đoàn vào chiến trường ác liệt với một tinh thần mang tiếng hát vào nơi bom đạn để động viên bộ đội, đó là một vinh dự lớn lao và cũng là một trách nhiệm thiêng liêng.
Đoàn Nam tiến bằng xe Gát, cứ đêm đi ngày nghỉ để tránh phục kích. Xe đi đêm chỉ được bật đèn gầm để giữ bí mật. Có hôm đêm tối, đường khó, xe bị thụt xuống hố. Cả đoàn phải xuống xe để chờ giao liên gọi xe khác kéo lên. Khi đoàn đến Quảng Bình thì đúng vào mùa mưa. Đoàn văn công phải neo lại ở binh trạm 14 một tháng chờ hết mưa thì mới biểu diễn được.
Thế rồi đoàn tiếp tục vào trong, đi đến đâu phục vụ ngay đến đó. Đêm đầu tiên chị hát ở binh trạm 27 phục vụ bộ đội lái xe. Các anh ngồi im lặng nghe hát rồi anh nào cũng khóc khi chị hát những làn điệu dân ca Quan họ. Có hôm phục vụ cả ngày cả đêm mấy xuất diễn hát cho bộ đội, thương binh. Đoàn của chị chỉ có năm người( Lan, Chính, Sâm, Thắm, Ngải) nhưng các chị thay nhau phục vụ không biết mệt mỏi. Ngày ấy bộ đội ta thấy văn công thì thích lắm. Các anh đi chiến đấu lâu ngày chưa được về quê. Suốt bao năm hành quân, lái xe chở hàng chi viện cho tiền tuyến chỉ nhìn thấy bóng con gái đã mừng đến nôn nao. Qua mỗi trạm thấy cô giao liên đầu đội mũ tai bèo, vai quấn khăn rằn đã nhao nhao hỏi thăm. Các anh chỉ hỏi quê đâu để được nghe tiếng con gái. Ôi chao, giọng con gái trong trẻo như tiếng chim rừng làm các anh tan hết mệt mỏi. Đó là những cô giao liên miền Trung, còn con gái miền Bắc có lẽ bao nhiêu năm các anh chưa nhìn thấy. Nay nghe có đoàn văn công Hà Bắc đến biểu diễn phục vụ thì niềm vui không thể nào tả hết. Chị kể bằng giọng xúc động.Các chị biểu diễn mặc áo bà ba nâu cánh dán. Mầu áo ngày xưa ở nhà các mẹ các chị vẫn mặc. Có anh đến gần xin được sờ tay vào vạt áo vì lâu quá không nhìn thấy. Chị không sao quên được hôm ấy diễn vở Tình thương, chị đóng là bà mẹ già 70 tuổi tiễn con ra trận. Diễn xong một anh bộ đội lên ôm chặt lấy chị khóc nức nở:
- Mẹ ơi, mẹ bao nhiêu tuổi?
  Chị bẽn lẽn trả lời:
- Dạ, em mười chín.
- Chị giống mẹ tôi ở quê quá, đã 10 năm tôi chưa được gặp mẹ.
Sau này giải phóng, anh bộ đội ấy quê Bắc Ninh, anh tên Biên tìm đến nhà chị rồi mời chị về quê anh chơi. Thế mới thấy tình người trong chiến tranh quý biết nhường nào.
- Xin chị cho biết kỉ niệm đáng nhớ nhất.
Đó là chị gặp anh Nguyễn Hoa Ngân (chồng chị bây giờ) ở binh trạm 34 ở đường Trường Sơn. Anh Ngân bị thương nên ra Bắc điều trị. Nghe nói có đoàn văn công Hà Bắc đang vào Nam phục vụ bộ đội. Anh đi ra, chị đi vào. Ở nhà hai người có quen biết nhưng sao ở Trường Sơn gặp đồng hương nó quý thế. Anh đã đi đến đỉnh đèo mà biết chị ở dưới đèo anh Ngân đầu băng trắng xóa chạy như bay xuống:
- Ngải ơi... ơi....
Chị ngạc nhiên không biết ai gọi mình. Bao mệt mỏi tan biến, chị chạy lên theo tiếng gọi. Lúc thấy anh chị sững lại vì mừng. Hôm đó anh ở lại với đoàn văn công một đêm xem các chị biểu diễn rồi mai mới ra sau. Nói đến đây chị cười hồn nhiên, mắt lấp lánh như một cô thiếu nữ. Ngày ấy còn không dám cầm tay nhau, cũng không dám nhìn nhau. Anh hẹn chị ngày trở về. Tình yêu người lính chỉ có vậy mà anh chị yêu nhau năm năm mới thành vợ thành chồng. Họ sống hạnh phúc viên mãn bên nhau suốt đời. Chị bảo nếu không có anh, chị cũng không theo nổi nghiệp diễn viên, cũng không tham gia truyền dạy và bảo tồn Quan họ như bây giờ. Phải nói rằng anh là người chồng luôn thông cảm với nghề nghiệp của vợ và tạo điều kiện cho chị đi biểu diễn, hội diễn đây đó. 
Bỗng anh Ngân chồng chị ngân nga đọc bài thơ "Người ơi người ở" của Phạm Tiến Duật rồi giục chị kể cho tôi nghe xuất xứ bài thơ.
Hai mươi chín tết năm 1971, chị gặp Phạm Tiến Duật trong chương trình đón giao thừa. Nhà thơ trẻ Phạm Tiến Duật lúc đó đang công tác tại Cục Chính trị Bộ Tư lệnh 559, còn Lệ Ngải là ca sĩ trẻ của đoàn Nghệ thuật xung kích Hà Bắc, họ gặp nhau trong đêm giao thừa ở Bộ Tư lệnh 559. Trong buổi liên hoan đón năm mới. Nhà thơ Phạm Tiến Duật ngâm thơ, còn Lệ Ngải hát Quan họ. Giọng hát mượt mà sâu lắng của cô văn công trẻ đẹp đã làm nhà thơ ngưỡng mộ. Khoảng nửa tháng sau đoàn đi biểu diễn phục vụ chiến đấu thì chị bị ốm nằm ở nhà. Nhà thơ Phạm Tiến Duật sang thăm với một nắm lá méo (loại lá rừng chua chua mà các cô văn công rất thích). Khi thấy chị ở nhà một mình, Phạm Tiến Duật mời chị sang thăm Cục Chính trị. Mặc dù rất mệt nhưng trước sự ngưỡng mộ của nhà thơ và cán bộ chiến sĩ, Lệ Ngải không thể chối từ. Đến nơi chị giật mình khi thấy anh chị em trong cục Chính trị đã ngồi chật cả Hội trường. Mặc dù mệt nhưng trước tấm lòng của các chiến sĩ Trường Sơn, chị ngồi ở bậu cửa rồi không loa đài,  không tăng âm chị đã cất tiếng hát vang vọng trong lòng những người chiến sĩ giữa nơi đầy gian khổ, hy sinh. Tiếng hát của chị âm vang cả núi rừng cỏ cây, hoa lá. Nhờ tiếng hát của chị mà mọi người thêm yêu quê hương đất nước tự hào dân tộc, nhờ tiếng gọi “người ơi ” mà tình yêu thương đồng chí, đồng đội như được nhân lên; nhờ tiếng "gọi sông, gọi núi’’ làm cho tinh thần chiến đấu như thêm sức mạnh. Cây đa bến nước con đò trong câu hát của chị làm mọi người vơi nỗi nhớ nhà… Khi tiễn chị về, Phạm Tiến Duật có hứa sẽ làm tặng chị một bài thơ bởi khi nghe chị hát tâm hồn anh đã có sự thăng hoa của cảm xúc. Nhưng rồi chiến trường khốc liệt, lần chia tay ấy hai người không gặp lại nhau. Như đã hứa, bài thơ “Người ơi người ở” đã ra đời và được đăng trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội vào năm 1971. Mặc dù Lệ Ngải không nhận được bài thơ chép tay mà nhà thơ đã hứa nhưng Lệ Ngải luôn coi đó là món quà vô giá. Đến nay chị vẫn gìn giữ bài thơ như một vật báu của cuộc đời. Chị nhận được tập thơ đó do anh Bốn ở Hải Phòng gửi tặng. Bài thơ “Người ơi người ở” có thể coi là một trong những bài thơ tình hay nhất của Phạm Tiến Duật (tuyển chọn vào tập "Thơ tình Trường Sơn").
Mãi đến năm 2005, nhân dịp Nguyên tiêu ở thành phố Bắc Ninh chị lên ngâm bài thơ’ "Người ơi người ở’" thì Phạm Tiến Duật (là khách mời) đã lên tặng chị bông hồng với nước mắt rưng rưng xúc động.
Tôi vinh dự được chị cho xem cuốn nhật ký những năm 70 của thế kỷ trước. Nét mực tuy đã cũ nhưng nét chữ còn tươi rói của một thời hoa lửa.
Nghỉ hưu năm 1992 nhưng với một gia tài Quan họ khổng lồ nên NSƯT Lệ Ngải vẫn tiếp tục giảng dạy và truyền bá Dân ca Quan họ Bắc Ninh cho trường cấp 3 dân lập Bắc Ninh, dạy CLB Kinh Bắc, thôn Yên, Niềm Xá. Chị dạy cơ quan địa chất, Cao đẳng sư phạm, cung thiếu nhi Bắc Ninh. Chị dạy trường VHNT Bắc Giang từ năm 2007 đến năm 2015. Dạy trường VHNT Bắc Ninh từ năm 2003 đến nay. Chị làm giám khảo cho trung tâm văn hóa Kinh Bắc từ 2002 đến bây giờ. Chị có vốn hàng trăm bài Quan họ cổ, bất kỳ ai yêu Quan họ chị đều vui vẻ truyền dạy không kể thời gian. Cứ nói về Quan họ, đôi mắt chị lại lấp lánh một niềm vui khó tả.
Chúng tôi nói chuyện đến đây anh Ngân chồng chị tiếp lời:
- Chị là một bảo tàng sống với bao làn điệu Quan họ. Hiện nay chị vẫn giảng dạy tại trường VHNT Bắc Ninh với mỗi kỳ 200 tiết bao gồm dạy hát quan họ, hát đối đáp, văn hóa quan họ, tổ chức canh hát từ năm 2003 đến nay. Thế nên anh không cho chị đi xe máy. Nếu chị đi đâu thì anh tình nguyện làm xe ôm miễn phí. Thời buổi này thanh niên đi ẩu, lỡ nó va vào mình thì lấy ai lên lớp dạy Quan họ.
Tôi nhìn anh tỏ vẻ biết ơn. Phải có những người yêu Quan họ như anh, như chị thì Quan họ Bắc Ninh mới mãi trường tồn và lan tỏa.
Chia tay tôi với bài Quan họ mời trầu: "Mấy khi khách đến chơi nhà, đốt than quạt nước pha trà mời người xơi".
Chúng tôi dùng dằng chia tay với một lời hẹn: Cùng bạn bè đến để chị dạy hát Quan họ. Trời mùa thu dường như xanh hơn trong lòng người yêu Quan họ xứ Kinh Bắc./. 
                                                                                                                                                                                         LƯU LAN PHƯƠNG