Trang chủ Văn hiến làng quê Bắc Ninh - Kinh Bắc

TRANG LIỆT ĐỀN THỜ VÀ PHONG TỤC
16:04 | 21/05/2018

 VĂN AN

 

Trang Liệt, một làng cổ của Bắc Bộ, điểm sáng văn hóa đầu tiên của cả nước. Một làng, nhà ngói đang nhường chỗ cho bê tông, cánh đồng lúa thu mình cho các cụm công nghiệp. Một làng đang thai nghén, đang chuyển mình theo thời đại.

Lùi 700 năm, làng là ấp Bà Liệt.

Lùi 1000 năm, làng lầy lội trong vùng đất Đồng mang, thấp trũng, nhỏ bé. Một sự kiện làm thay đổi đời sống người dân ấp. Cuộc gặp gỡ thượng hoàng Trần Thừa và đoàn người ấp Đồng Mang kiếm củi trong rừng Sặt. Người con gái, hoa hậu ấp Đồng Mang Phạm Thị Trân lọt vào mắt xanh của Thượng hoàng. Người kết duyên cùng nàng trong một đêm ngắn ngủi, cắt một vạt áo làm tin như một lữ khách giang hồ. Duyên trời đã dẫn chàng trai Bà Liệt nhận đức cha (việc này khác hẳn với cụ Lê Văn Hưu ghi trong sử ký). Chàng đô vật được phong Hoài Đức Vương Trần Bà Liệt, đây là vị quan đầu tiên của làng; hôm trước chàng còn lếch thếch, quần chằng áo đụp, hôm sau đã là quan, mũ cánh chuồn, cưỡi ngựa giữa đám lính gươm giáo sáng rực. Dân Đồng Mang trố mắt, ngạc nhiên, sợ hãi. Chàng xuống ngựa, chào hỏi lễ phép mời các bô lão vào nhà. Chàng được phong vương, được ban vùng rộng lớn là lãnh địa Trang Liệt bây giờ. Cần nói thêm, sau này cô gái làng là Trần Thị Thắm có công dẹp loạn ở Tuyên Quang, được phong quận công, triều Hậu Lê không thể thưởng đất đai địa phương, bởi đồng đất Trang Liệt đã thuộc Hoài Đức Vương. Bà quận công Trần Thị Thắm phải sang Yên Thường nhận đất bằng cách ném dao. Dao ném đến đâu, đất của bà đến đó. Cả cánh đồng rộng lớn của xã Yên Thường thuộc quyền bà. Nay vốn gọi là cánh đồng Đao Điền.

Vùng đất Hoài Đức Vương Trần Bà Liệt cai quản là vùng gò cao với cánh rừng sến, rừng cúm khoe sắc vàng rực. Ông mời thầy địa lý thẩm định vùng địa linh với điểm Mắt Rồng, Hàm Rồng, Đuôi Rồng… Hoài Đức Vương sung sướng. Đây là phúc phận của ông và phúc phận cả dân làng. Ông thưa chuyện với mẹ là Phạm Thị Trân mời dân chuyển làng về vùng đất mới. Ông tặng dân. Ấp Bà Liệt có tên từ đây. Dân cảm kích, đội ơn mẹ con Bà Liệt. Ông cho lính chuyển đá từ Chè về xây giếng Mắt Rồng. Rồi một cây đa vạm vỡ mọc lên. Rễ cây xòa ra ôm gọn những phiến đá to như chiếc chiếu. Bà Liệt trưởng thành, nổi tiếng đô vật vùng Kinh Bắc. Rồi làm quan. Ông để lại trên ấp con đàn cháu đống. Ấy là con cái dòng họ Trần Khánh, Trần Đình và Trần Quang cùng ba vị tiến sĩ thời phong kiến là Trần Khánh Dự (đỗ 1532); Trần Thúc Bảo (1574); và Trần Khánh Hưng (1583); Họ đều là hậu duệ Hoài Đức Vương Trần Bà Liệt. Mẹ con ông đã để lại ân nghĩa trời bể cho người dân Trang Liệt. Khi mẹ con ông mất, dân ấp lập miếu thờ, rồi đền thờ hai mẹ con là Thánh Mẫu Phạm Thị Trân; Thánh Cả Hoài Đức Vương Trần Bà Liệt và lập phong tục đánh đồng niên giữa tuổi 14 với tuổi 15, cứ đến đầu năm họ tìm kiếm tre mà chủ vườn theo phong tục không được ngăn cấm. Cả đường làng ngổn ngang xác tre bị đốn hạ để chọn đoạn tre đực dài mét rưỡi. Đời một trai làng được đánh trận đồng niên hai lần. Cả thời niên thiếu, ngoài học tam tự kinh, họ còn mải mê luyện võ gậy. Vô tình, ấp Bà Liệt có hai đội võ gậy kiên cường khiến bọn trộm cướp của cải, hoa màu khiếp sợ cả ngày mồng 8 tháng Giêng là ngày hội võ gậy. Một cuộc so tài giữa những tay gậy tài ba, bụi cuốn mù mịt, gậy đập vào nhau chan chát, chắc nịch như sắt. Cũng có đội thua đội thắng. Cũng có tù binh. Nhưng kẻ bị bắt được giam trên chiếc chiếu. Có nước chè vào kẹo lạc. Đội thua trận phải đem xôi gà đến chuộc. Đó là một phong tục thượng võ đẹp đẽ của Trang Liệt, kéo dài mấy trăm năm. Người đánh trận đồng niên cuối cùng là cụ Bốn Thiện, cụ Thầm, cụ Chức sinh năm 1928. Trận đánh đồng niên năm 1942 đã kết thúc một phong tục đẹp đẽ của Trang Liệt suốt sáu trăm năm.

Vậy phong tục đánh đồng niên của Trang Liệt lấy ở đâu? Chắc hẳn lấy từ gia đình cụ Trần Bà Liệt. Lấy từ con cái cụ Liệt. Hình thức đấu trận của thế hệ thiếu niên, của lũ trẻ chăn trâu với cờ bông lau và gậy gộc chỉ có ở hai nhân vật lịch sử. Đó là Hoài văn hầu Trần Quốc Toản 13 tuổi bóp nát quả cam từ hội nghị Bình Than, trở về làng cậu tổ chức luyện võ giữa các tuổi trang lứa cậu để rồi cậu trở thành tiểu tướng với lá cờ thêu 6 chữ vàng “Phá cường địch báo hoàng ân”. Đó là Đinh Bộ Lĩnh cầm đầu những cuộc tập trận của trẻ chăn trâu. Rõ ràng Đinh Bộ Lĩnh không thể xuất thân từ gia đình cụ Trần Bà Liệt.

Có thể khẳng định rằng Trần Quốc Toản đã để lại phong tục thượng võ tuyệt vời – tục đánh đồng niên cho làng Trang Liệt – Một phong tục đã làm rạng danh mãi mãi cho làng. Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản chỉ có thể xuất thân từ ấp Bà Liệt mà thôi./.