Liên kết website
 Thống kê
   Đang truy cập
74
Tổng lượt truy cập
88542

Trang chủ NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI

THÁP TÔN ĐỨC VÀ HAI CUỐN SÁCH ĐỒNG Ở CHÙA BÚT THÁP - BẮC NINH
15:46 | 03/01/2019

Chùa Bút Tháp (Ninh Phúc tự) thuộc làng Bút Tháp, xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh – là công trình tín ngưỡng thờ phật có giá trị lịch sử và nghệ thuật tiêu biểu của quê hương và đất nước. Từ xưa tới nay di tích này đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu. Nhưng với tháp Tôn Đức và những cổ vật tại đây – đặc biệt là hai cuốn sách đồng vừa mới phát hiện trong lòng tháp, có lẽ ít người biết đến.

Trong hệ thống tháp đá ở chùa Bút Tháp, tiêu biểu nhất là tháp Báo Nghiêm – nơi xá lỵ của nhà sư Chuyết Chuyết và tháp Tôn Đức đặt xá lỵ của nhà sư Minh Hạnh.

Tháp Tôn Đức ở ngay sau chùa – nơi yên nghỉ ngàn thu của nhà sư Minh Hạnh. Tháp được xây dựng hoàn toàn bằng đá xanh, cao hơn 10m, các mặt có kiểu thức giống kiểu thức phổ biến của tháp cổ ở nhiều chùa xứ Bắc. Trong lòng của tầng tháp thứ 2 đặt tượng nhà sư Minh Hạnh. Trên một số mặt tháp được khắc những văn bia có giá trị lịch sử vô cùng sâu sắc.

Ngoài tấm bia “Sắc kiến Tôn Đức tháp khoán thạch” có niên đại Vĩnh Thọ thứ 3 (1660) ghi khắc về cuộc đời và sự nghiệp tu hành của nhà sư Minh Hạnh và việc dựng tháp, làm xá lỵ. Trên từng ô của tháp này còn khắc một số sự kiện lịch sử quan trọng. Bản khắc năm Chính Hòa thứ 5 (1684) ghi lại việc nhà sư Lê Ngọc Nghinh viên tịch được nhà sư Diệu Tuệ mua ruộng làm hương hỏa cho. Một bản khắc ở bên phải tháp – ghi về tiểu sử của công chúa Lê Thị Ngọc Duyên – hiệu phật là Diệu Tuệ dốc lòng theo đạo, từng xuất tiền dựng chùa Ninh Phúc. Khi viên tịch được nhà sư Chân Tuệ mua ruộng hương hỏa cho. Bản khắc ở mặt sau vào năm Vĩnh Hựu thứ 5 (1739) ghi lại việc các phi tần, công hầu, sỹ thứ công đức tiền mua ruộng để cúng tế hai vị tổ sư Chuyết Chuyết, Minh Hạnh và các thái phi Trịnh Thị Ngọc Trúc – quận chuá Trịnh Thị Ngọc Cơ, sư Diệu Viên và những người có công sửa chùa Bút Tháp. Theo nội dung bia đá nêu trên thì tháp này được xây dựng cách ngày nay gần 350 năm. Thái phi Trịnh Thị Ngọc Trúc, quận chúa Trịnh Thị Ngọc Cơ và sư Diệu Viên…là những người có công đức lớn trong việc tu bổ chùa nói chung với tháp Tôn Đức nói riêng, đặc biệt là việc tạo khắc 2 quyển sách kinh bằng đồng để mai táng cùng xá lỵ của nhà sư vào ngôi tháp này. Từ đó đến nay có lẽ cũng có đôi lần phải tu bổ, nhưng mấy thập niên qua thì ít được quan tâm thực hiện – người ta chỉ chú trọng những công trình xây dựng lớn, nên tháp đá bị cây mọc lâu năm không ai nhổ đi, rễ xuyên vào các mạch đá lâu ngày làm nghiêng cả tháp. Tháp Tôn Đức lại xây dựng ở gần ruộng vườn ẩm nước nên cũng dễ lún sụt phần nền

Gần đây mới có một gia đình họ Nguyễn là làng Đông Các, Từ Liêm (Hà Nội) vốn là hậu duệ của nhà sư Minh Hạnh được an táng trong tháp Tôn Đức, đã góp tiền của cùng tham gia tu sửa lại tòa tháp này. Họa sỹ Phan Cẩm Thượng trong thòi gian tĩnh tâm tại chùa Bút Tháp đã đứng ra trông nom và tư vấn về kỹ mỹ thuật tu sửa ngôi tháp Tôn Đức. Ngành văn hóa và chính quyền các cấp ngay từ đầu đã chỉ đạo công tác tu bổ tòa tháp này.

Tháp Tôn Đức cao hơn 10m, gồm có 5 tầng và một búp mái – đều bằng đá xanh. Khi tu bổ - tháo dỡ phần búp mái bị nghiêng nhiều, để dựng lại, những người tham gia tu bổ đã phát hiện trong lòng tháp (phần tầng 4) một di vật nặng được bọc kín trong một vỏ hợp chất có độ xốp mềm. Khi mở phần vỏ bọc ra thì phát hiện đó là hai cuốn sách gồm nhiều trang bằng lá đồng khắc chữ Hán cả hai mặt. Vỏ bọc ngoài là giấy dó nhiều lượt dày 1cm, do lâu ngày nên đến nay kết dính thành một lớp xốp. Hai cuốn sách bao gồm 56 tờ (lá đồng dày 1mm), trong đó chỉ có một tờ bìa không khắc chữ Hán cả 2 mặt, còn lại 55 tờ kia đều khắc chữ Hán, kích cỡ các trang đều nhau = (14,4 x 24,8cm). Một quyển 23 tờ đồng, tổng số trang là 46 khắc chữ Hán 2 mặt, trong đó chỉ có 1 trang không khắc chữ Hán. Quyển này ghi khắc ở tờ bìa: “Đại phương Quảng hoa Kinh Hải Hội phật”. Quyển sách đồng thứ 2 gồm 33 tờ = 66 trang, trong đó có 3 trang không khắc chữ Hán

Hai quyển sách đồng nêu trên là loại hiện vật có giá trị độc đáo về chất liệu loại hình. Ở tỉnh Bắc Ninh đến nay mới thấy 2 chùa có sách đồng: một quyển ở chùa Phật Tích do cụ Nguyễn Văn Phiếm trong Ban quản lý di tích lưu giữ, bảo quản, nhưng số trang không nhiều (5-7 trang) được khắc vào thời Nguyễn. Hai quyển ở chùa Bút Tháp (nêu trên) được tạo tác (khắc) từ năm Vĩnh Thọ thứ 3 (1660). Do bảo quản nơi cao ráo (trên tầng 4 của tháp đá) nên đến nay tình trang bảo quản vẫn tốt, chữ khắc còn sáng nét chỉ có một số trang xung quanh mép ngoài bị rỉ đồng nhưng chữ còn rõ. Một phần còn do sách này được xem như vật tùy táng (theo người chết) khi làm xong ít sử dụng, nên không bị oxy hóa nhiều. Phần lề (gáy) sách ở các trang đều có 3 lỗ để luồn dây sắt đóng thành quyển. Mỗi quyển đều có 1 thanh kim loại nhỏ dài 7cm, một đầu có khuy cầm, dùng để lật trang sách đồng khi đọc. Cả dây khâu sách và thanh kim loại đều đã bị rỉ.

Nội dung hai cuốn sách đồng nêu trên đều là sách kinh nhà Phật (Hoa Nghiêm kinh) nếu là chất liệu bằng giấy dó thì ở nhiều vùng Bắc Ninh đều có. Cho nên xét về giá trị nội dung lịch sử của 2 cuốn sách này không như tính lịch sử hiện vật – cổ vật (bảo vật) độc đáo và quý hiếm của nó.

Ngay sau phát hiện hai cuốn sách đồng ở chùa Bút Tháp (17/3/2009), lãnh đạo địa phương và cơ quan chuyên môn (Cục DSVH, Bảo tàng Bắc Ninh và Ban Quản lý di tích tỉnh, Phòng VHTT huyện Thuận Thành…) đã có mặt kịp thời để giải quyết. Cả 2 cuốn sách đồng đã được mọi người đồng thuận đưa về Bảo tàng Bắc Ninh.

Bảo tàng Bắc Ninh đã triển khai ngay công tác làm bản sao di vật – hai cuốn sách đồng nêu trên. Do độ dày của các trang sách đồng khác cỡ thông thường sẵn có hiện nay, việc khắc chữ Hán vào là đồng mỏng (lại khắc 2 mặt) ít có những nghệ nhân chuyên làm, nên việc phục chế loại cổ vật độc đáo này gặp nhiều khó khăn. Tuy vậy sau hơn 1 tháng – khắc phục những khó khăn nêu trên, Bảo tàng Bắc Ninh đã hoàn thành bản sao cả 2 quyển sách đồng đó bằng đồng, bằng giấy dó và chụp scan. Viện nghiên cứu Hán Nôm cũng đã sao một bản bằng giấy dó đưa về lưu trữ phục vụ công tác nghiên cứu.

Theo quy định của Luật Di sản văn hóa – lẽ ra cổ vật có giá trị này cần được lưu giữ bản gốc tại Bảo tàng Bắc Ninh, nhưng vì yếu tố tâm linh trong nhân dân địa phương và nhà chùa, đầu tháng 7/2009 Ban Quản lý di tích đã nhận lại bản gốc từ Bảo tàng Bắc Ninh – cả hai quyển sách này trả lại cho di tích – đưa vào vị trí cũ đặt khối đá hơn 300kg hình bút tháp lên xây kín lại như trước./.

                                                                                                                                                                         LÊ VIẾT NGA