Trang chủ Văn học Lý luận

QUẢN CHI TRÊN CÁC, DƯỚI DUỀNH
15:09 | 30/08/2018

 

Hầu như toàn bộ các bản Truyện Kiều, chữ quốc ngữ đều chép đoạn Thúc Sinh tâm sự với Thúy Kiều ở Quan Âm Các là:

“Quản chi lên thác xuống ghềnh

Cũng toan sống thác với tình cho xong”

(Câu 1951 - 1952)

Với cách hiểu cụm từ “Lên thác xuống ghềnh” như một thành ngữ có nghĩa là “Chỉ tình hình nguy hiểm như đi thuyền lên thác hay xuống ghềnh” (Từ điển Truyện Kiều của Đào Duy Anh). Ta những tưởng Thúc Sinh không quản ngại gian lao, nguy hiểm “Lên thác, xuống ghềnh” để đưa Thúy Kiều đi trốn với mình. Nhưng thực sự hành động của chàng ta lại chỉ là lời khuyên Thúy Kiều:

“Liệu mà cao chạy, xa bay

Ái ân ta có ngần này mà thôi”

Như vậy, phải chăng có sự thiếu nhất quán giữa lời nói và việc làm của chàng Thúc trong đoạn Truyện Kiều nói trên.

Thực ra, tất cả các bản Truyện Kiều chữ Nôm cổ (20 bản) đều chép rất thống nhất là:

“Quản chi trên các, dưới duềnh

Cũng toan sống thác với tình cho xong”

Vậy cụm từ “Trên các, dưới duềnh” nghĩa là “trên lầu gác, dưới duềnh nước” có nghĩa bóng chỉ sự việc gì đây?

Trong nguyên tác “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân chép về đoạn này như sau: “Ngã cơ dục nữ nhĩ đồng tử, dĩ liễu hiện tiền cho nghiệt” nghĩa là “Ta những muốn cùng chết với em cho khỏi cái cảnh đau đớn trước mắt này”. Như thế là Thúc Sinh bày tỏ ý định cùng chết với Thúy Kiều chứ không phải rủ Thúy Kiều cùng “lên thác, xuống ghềnh” đi trốn. Trong một bản Kiều chữ Nôm cổ chép tay, bậc túc nho Chiêm Vân Thị đã giảng cụm từ này như một điển tích văn học là “Dương Hùng đầu các nhi tử, Khuất Nguyên tự trầm Mịch La” nghĩa là “Dương Hùng (một nhà thơ đời Hán) đâm đầu từ trên lầu gác xuống đất chết, Khuất Nguyên (quan Tả đô nước Sở) ôm đá gieo mình xuống sông Mịch La tự vẫn”.

Do đó ta hiểu thi hào Nguyễn Du đã dùng điển tích “trên các, dưới duềnh” để diễn tả tâm tư của Thúc Sinh khi giãi bày cùng Thúc Sinh là “Ta không quản ngại chi việc học theo cái chết Trên Các của Dương Hùng hay gieo mình xuống Dưới Duềnh tự vẫn như Khuất Nguyên để khỏi phải nhìn cái cảnh đau đớn khi Thúy Kiều bị Hoạn Thư hành hạ bằng hai câu thơ cô đọng, xúc tích và hàm ẩn:

“Quản chi trên các dưới duềnh

Cũng toan sống khác với tình cho xong”

Văn chương trong Truyện Kiều cũng đã cho chúng ta thấy thiên tài Nguyễn Du chắt lọc trong kho tàng văn liệu phong phú của nền văn học cổ Phương Đông để tạo nên nhiều điển cố văn học xúc tích như:

“Ra tuồng trên Bộc, trong dâu

Bâng khuâng đỉnh Giáp, non Thần

Trong khi chắp cánh, liền cành

Nàng rằng: Hồng diệp, xích thằng…”.

Và hôm nay qua một phen “lên thác, xuống ghềnh” tra cứu, sưu tầm đối chiếu các tư liệu, bằng thiển kiến của mình, tôi tin chắc Nguyễn Du tiên sinh đã bổ sung vào kho tàng điển tích văn học của dân tộc ta một thành ngữ có nội dung uẩn súc là:

“Quản chi trên các, dưới duềnh”

Mà nét nghĩa của nó khắc họa rõ hình ảnh chàng Thúc "miệng hùm, gan sứa” muốn tỏ vẻ anh hùng khi miệng nói thì học đòi tấm gương của Dương Hùng, Khuất Nguyên nhưng “gan sứa” lại vin vào cớ “Tông đường chút chửa cam lòng” để đẩy Thúy Kiều rơi vào cảnh “Canh khuya thân gái dặm trường” tạo nên nỗi thương cảm, xót xa về thân phận chìm nổi của nàng Kiều cho đến tận ngày nay./.

NGUYỄN KHẮC BẢO