Trang chủ Văn học Văn xuôi

NON CAO BIỂN RỘNG NGƯỜI THƯƠNG ĐI VỀ
16:13 | 14/06/2018

 

 

Ký sự của Nguyễn Công Hảo

Khá nhiều bài ca dao ca ngợi cảnh đẹp, sản vật ngon, nổi tiếng ở Khánh Hòa tôi sưu tầm được và tôi khá thiện cảm với những câu thơ của nhà thờ Quách Tấn:

“Khánh Hòa là xứ Trầm Hương

Non cao biển rộng người thương đi về

Yến sào mang đậm tình quê

Sông sâu đá tạc lòng thề nước non”

Tôi xin mượn câu “Non cao biển rộng người thương đi về” đặt tên cho bài ký sự này khi tham dự Trại sáng tác Văn học Nghệ thuật tại Nhà sáng tác Nha Trang vào tháng 4 năm Mậu Tuất 2018 đầy ý nghĩa. Tháng 4 đi vào lịch sử hào hùng của dân tộc cách đây 43 năm, cũng là thời gian vừa kỷ niệm 50 năm Cuộc tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968. Bài viết này không có tham vọng tìm hiểu đầy đủ về đất và người Khánh Hòa, chỉ là thoảng qua đôi nét gọi là tìm hiểu về nền văn hóa Sa Huỳnh có từ lâu đời tồn tại ở vùng quê “Sông sâu đá tạc lòng thề nước non”.

Hôm đoàn văn nghệ sĩ Bắc Ninh dự Trại sáng tác đến thăm Hội VHNT Khánh Hòa; các anh Nguyễn Sĩ Chức, Chủ tịch Hội; Trần Hà, Phó Chủ tịch Hội đón tiếp thịnh tình. Anh Chức khái quát về văn hóa, lịch sử Khánh Hòa, chúng tôi mới hiểu rõ hơn về vùng đất sơn thủy hữu tình mà biết bao đời nay, biết bao các thế hệ văn nghệ sĩ đã khai thác đưa vào thi ca, nhạc họa, văn học…

Thật đúng như Kịch gia Nguyễn Sĩ Chức trao đổi “Khánh Hòa không có nhiều đất phẳng đồng bằng như Phú Yên, Bình Định, nhưng Khánh Hòa được thiên nhiên ưu đãi cho một vùng biển đặc sắc, nhiều vụng vịnh; Cam Ranh là một vịnh tiêu biểu có nhiều lợi thế về du lịch và địa chính trị, quân sự. Rừng cho một loài đặc sản quý hiếm: “Trầm hương”, núi cho nhiều loại đá có giá trị…”. Quả thực khi chúng tôi đi thực tế, được ngắm những dải non cao hùng vĩ, mới hiểu rõ hơn. Những dãy núi ở Khánh Hòa thuộc dãy Trường Sơn, nhưng nhiều dải núi chạy ra sát mép biển và còn chìm lấp dưới biển tạo thành hơn 200 đảo lớn nhỏ với một bờ biển dài 358km, tính từ mũi Đại Lãnh (giáp Phú Yên) đến vịnh Cam Ranh. Có đến 6 đầm, vịnh lớn: Đại Lãnh, Văn Phong, Hòn Khói, Nhan Phụ, vịnh Nha Trang, vịnh Cam Ranh. Núi nhô ra biển tạo thành mũi: Hòn Thị, Khe Gà (Con Rùa), Đông Ba, Hòn Tre, Hòn Miếu, núi Cô Tiên… Xa xa là hai quần đảo quan trọng trên Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa. Phía Bắc có dãy núi Vọng Phu cao hơn 1000m, trong đó có dãy Tam Phong gồm 3 đỉnh cao là hòn Giữ (1264m), hòn Ngang (1128m) và hòn Gấp (1127m). Dãy Vọng Phu có hướng Tây Nam – Đông Bắc kéo dài 60km tạo thành ranh giới tự nhiên Khánh Hòa với hai tỉnh Phú Yên – Đăk Lăk. Nơi đây có nhiều đèo nổi tiếng đã từng đi vào thơ ca: Đèo Cả, Cổ Mã, Chín Cụm, Bánh Ít, Rọ Tượng, Rù Rì. Phía Nam xuất hiện một vùng núi rộng với nhiều đỉnh cao từ 1500m đến 2000m, trong đó có đỉnh Hòn Giao (2062m). Vùng này tạo nhiều khe, thung lũng sâu rất nguy hiểm cho giao thông; có thung lũng Ô Kha được biết đến là một vùng nguy hiểm cho hàng không.

Từ núi rừng rộng lớn, thiên nhiên đã ban tặng cho “Khánh Hòa là xứ Trầm Hương” mặc dù không phải là nơi duy nhất ở nước ta có Trầm Hương, nhưng Trầm Hương Khánh Hòa đã đi vào ca dao là câu nói ý chỉ vùng đất có Trầm Hương tốt và nhiều nhất ở Việt Nam. Chúng tôi tìm hiểu Trầm Hương ở Khánh Hòa được tạo ra từ cây Dó Bầu là loại cây kiên cường và có sức sống bền bỉ nhất, không chịu gục ngã trước những vết thương trong thân cây. Thay vì chết dần, chết mòn thì loại cây này lại hồi sinh bằng cách tiết ra nhựa cây thơm ngát để bao bọc vết thương. Qua thời gian vết thương ấy hóa dần thành Trầm Hương. Nghe dân gian truyền lại sử dụng Trầm Hương thường xuyên sẽ mang lại nhiều may mắn, tài lộc, sức khỏe bình an và thịnh vượng cho chủ nhân. Trầm Hương còn được coi là “linh khí tâm linh”, bày Trầm Hương cảnh trong nhà thể hiện sự sành sỏi của gia chủ và là vật vượng khí cho ngôi nhà. Thật đúng là “Linh khí của trời đất”. Vì thế, từ xa xưa cho đến nay vẫn có bao câu chuyện đau lòng cho những người làm nghề phu tìm Trầm.

Đến Khánh Hòa, không thể bỏ qua địa danh Nha Trang. Vùng đất này được ví là “viên ngọc xanh”. Biển Nha Trang hiền hòa, êm dịu, có vịnh Nha Trang với 507km² và 19 hòn đảo. Hòn Tre là lớn nhất 32,5km²; có lẽ Hòn Tre (Che) được coi là thành lũy chắn bão từ bao đời nay, nên Nha Trang ít có bão đổ bộ vào, vì thế năm 2017, cơn bão số 12 vào Nha Trang, nhiều người chủ quan (có người còn đổ ra đường phố để xem bão) nên mới bị ảnh hưởng nặng nề. Anh Chức cho chúng tôi biết: “Cái cây trước nhà anh to lớn là vậy mà nó đổ, trước khi nó đổ, nó xoay bên nọ, lật bên kia trông như làm xiếc, thế mới biết “gió giật” của bão nguy hiểm thật”. Ở Bắc Ninh, cũng đến gần hai chục năm chưa có bão lớn vào chỉ là chịu ảnh hưởng của “rớt bão” nhưng hồi nhỏ tôi cũng từng chứng kiến mấy cây cổ thụ đổ như anh Chức tả ở trên khi bão đổ bộ vào vùng quê Bắc Ninh. Năm ngoái, năm kia chúng tôi còn được chứng kiến những “cơn giông” ở Hà Nội và Bắc Ninh cây đổ chèn bẹp cả xe máy, ô tô. Gió giật của cơn giông thời gian ngắn hơn gió bão nhưng cũng hết sức nguy hiểm. Không đùa và cũng không thể chủ quan trước sự tàn phá của thiên nhiên được. Nhà thơ Tạ Hữu Yên đã khắc họa “Đất nước tôi, Từ thuở còn nằm nôi, sáng chắn bão giông, chiều ngăn nắng lửa” trong bài thơ “Đất nước tôi” và được Nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn đưa vào ca khúc “Đất nước” đã nói lên những khó khăn từ thiên nhiên trong quá trình dựng nước cũng như chống giặc ngoại xâm trong quá trình giữ nước của dân tộc. Dải đất miền Trung, trong đó có Khánh Hòa luôn gánh chịu những khó khắn tàn phá của thiên nhiên. Chúng tôi lại càng cảm phục và cảm thông với đất và người miền Trung.

Tôi vẫn cứ băn khoăn về địa danh “Nha Trang” ai đặt tên sao mà nên thơ vậy? Lục lại lịch sử hình thành vùng đất Nha Trang, cũng chỉ biết như sau: “Theo âm Chăm, địa danh Y Ja Tran (hay EaTrang) có nghĩa “Sông Lau”. Sông Cái bắt nguồn từ đỉnh Chư Ta Go cao 1475m chảy qua địa phận Nha Trang ra Cửa Lớn có nhiều cây Lau, cây có nhiều bông trắng, vì thế có tên gọi Nha Trang”. Theo Toàn Tập Thiên Nam Tư Chí Lộ Đồ Thư, tập bản đồ do Nho sinh Đỗ Bá soạn vào giữa thế kỷ thứ XVII có tên “Nha Trang Môn (cửa Nha Trang)”. Trong Phủ Biên Tập Lục của Lê Quý Đôn soạn là “Đầm Nha Trang” hay “Dinh Nha Trang”. Còn theo từ điển Hán Nôm – Hán Việt thì từ “Nha” có nhiều nghĩa, trong đó có nghĩa “xòe ra” như chạc cây (Y) còn “Trang” là “giãn thể” nghĩa là “Tráng kiện” hay “To lớn”. Tôi lại thấy hay hay theo cách giải thích của Hán Nôm – Hán Việt: Vịnh Nha Trang (hay cửa Nha Trang) được xòe ra rất là to lớn, tráng kiện. Quả đúng vậy, vịnh rộng đến 507km², bờ biển đẹp đến “mê hồn”, nhiều đảo có “Trầm tích” giá trị cho việc nghiên cứu như Hòn Mun có nhiều dải San hô; Hòn Tằm cho một không gian hoang dã, sơ khai; Hòn Chồng, Hòn Vợ cho một giai thoại, Truyền thuyết tình chồng, nghĩa vợ trong dân gian. Đặc biệt có nhiều đảo như Hòn Nội, Hòn Ngoại, Hòn Sam… cho một đặc sản quý hiếm “Yến sào Nha Trang”…

Núi rừng Khánh Hòa cho vật sản “Trầm Hương”; Biển Khánh Hòa cho tôm, cá, hải sản và Yến sào, những vùng đất khác cho nhiều món ngon như bài ca dao 6 món không thể quên thưởng thức khi đến Khánh Hòa: Yến Sào Hòn Nội; Vịt lội Ninh Hòa; Tôm Hùm Bình Ba; Nai khô Diên Khánh; Cá Tràu Võ Cạnh; Sò huyết Thủy Triều; và còn nữa: “Nem Ninh Hòa; Bánh Tráng Xoài Đặc…” chỉ sơ sơ vậy thôi, nhưng đoàn văn nghệ sĩ Bắc Ninh đâu được thưởng thức hết; thời gian có hạn, đi đâu hết được 6 vùng quê với 6 món đặc sản đã vào thơ ca.

Chúng tôi đành đem theo cả vùng đất “Non cao biển rộng người thương đi về” vào những tác phẩm Văn học Nghệ thuật của từng hội viên tham dự Trại sáng tác để lưu lại cho riêng từng người và cho cả mọi người muốn biết đến Khánh Hòa.

Trại sáng tác Nha Trang, tháng 4 năm 2018