Liên kết website
 Thống kê
   Đang truy cập
43
Tổng lượt truy cập
88452

Trang chủ KỶ NIỆM NGÀY THÀNH LẬP QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

NHỚ MỘT LẦN THĂM TƯ DINH ĐẠI TƯỚNG
15:31 | 03/01/2019

 Xe rẽ vào đường Hoàng Diệu rồi dừng lại ở số nhà 30. Mùi thơm của hoa cùng ánh nắng vàng như mật ong trải xuống khắp hàng cây ngọn cỏ. Đó là sớm mùa thu, đoàn chúng tôi gồm bảy người được ra thăm Đại tướng...

Cổng ra vào rộng mở, không bốt gác, không có người đứng canh. Tôi tưởng vào đây sẽ rất nghiêm ngặt, nên không dám mang theo máy ảnh. Khi mọi người ra khỏi xe, một cán bộ từ phía trong, cùng một người lính còn rất trẻ bước ra hướng cho xe chúng tôi vào đỗ ngay bên rệ cỏ. Tất cả được mời vào phòng khách. Ở đây treo rất nhiều tranh, ảnh cùng những bức trướng thêu trang trọng lời chúc, bài thơ; có cả những câu đối viết bằng chữ thảo rất đẹp, tặng Đại tướng vào những ngày trọng đại của đất nước và mỗi dịp xuân về.
Tôi để ý có ba bức hình nổi bật. Đó là ảnh Fidel Castro, Anh hùng Che Guevara và tổng thống Hugo Chavez tặng Đại tướng thanh bảo kiếm. Tất cả đều được phóng to, treo ở nơi trang trọng.
Ngắm ảnh, đọc thơ và lời lưu bút của khách trong nước và quốc tế đến thăm, mới biết việc tiếp khách của Đại tướng trong những tháng năm về nghỉ ở số nhà 30 Hoàng Diệu, gần như dày đặc. Lần qua hai phòng khách, tôi bước ra sân ngắm khu biệt thự ngợp trong nắng vàng. Nhiều chậu cây cảnh đơm hoa. Mấy cây cao tỏa bóng, lá cành đung đưa. Thỉnh thoảng một tiếng chim hót. Vài chiếc lá vàng rơi, như người gội đầu để rơi mấy sợi tóc bạc. 
Phía bên kia: căn gác nhỏ phủ rêu phong là nơi nghỉ và làm việc của Đại tướng. Khu khuôn viên không rộng cũng rợp một màu xanh. Đi bên tôi là mấy người bạn. Tất cả đều hân hoan, bởi trong đời, khồng phải ai cũng có dịp được về thăm Đại tướng.
Lúc trở lại phòng khách, tôi đang mải ngắm bức ảnh Đại tướng cùng 34 chiến sĩ tuyên truyền giải phóng quân bên gốc đa Tân Trào thì từ phía trong, môt ông già đầu bạc, có ánh mắt tinh anh, đi cùng một thiếu phụ dáng mảnh mai, lịch lãm. Bà để mái tóc như vầng trăng khuyết xòe xuống nửa trán bên phải. Lúc đến bên tôi bà cười rồi gật đầu thân mật: "Mình trông cậu quen quá!...”. Tôi cảm động đến sững người rồi lúng túng không nói được thành lời. Có thể một vài lần đi lĩnh giải, xuất hiện trên truyền hình nên bà lão nhận ra mình? Cứ vậy, tôi nhìn theo hai ông bà níu tay nhau, thả bộ trên lối mòn đầy hoa cỏ rung rinh trong nắng sớm. 
Mải nghĩ miên man, người cán bộ văn phòng đứng bên nói nhỏ: "Đấy là ông bà Hà Văn Lâu vào thăm Đại tướng, nên đoàn mình phải chờ thêm chút nữa...”.
Tôi thật sự bất ngờ vì từ hồi còn rất trẻ, sau hiệp định Giơnevơ 1954, đất nước bước vào cuộc đấu tranh thống nhất, đài tiếng nói Việt Nam luôn nhắc đến đại tá Hà Văn Lâu. Bao năm rồi, Người đã góp phần vào cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao như một sứ giả của hòa bình. Giờ được nhìn tận mắt: đó là một ông già quắc thước, lưng thẳng, mắt sáng, bước đi đĩnh đạc. Còn bà, vẫn giữ được vẻ đẹp của người phụ nữ ngày xưa: đoan trang, lịch lãm và cởi mở.
Đoàn chúng tôi được lên gặp Đại tướng, không phải ở phòng khách mà ở ngay phòng trệt của căn biệt thự nhỏ. Ai đó nói với chúng tôi rằng: Đại tướng không lên phòng khách vì ông bị đau xương chậu. Năm nay, Đại tướng đã chín mươi bảy tuổi, các Giáo sư, bác sĩ cố gắng giữ sức khỏe cho Đại tướng đến tuổi một trăm. 
Khi đã có mặt đông đủ, Đại tướng hỏi chúng tôi: tên, tuổi và công việc từng người. Đoàn có chị Mỹ Ngọc từng là y tá ở chiến trường Tây Nguyên. Bác Thân - người chiến đấu chín năm liên tục ở mặt trận Gia Lai. Cô Lý - người tổ chức cho chuyến đi ngày hôm nay, xưa từng mặc váy, đeo gùi, đeo giỏ, để đầu bù tóc rối đi bên các má người dân tộc, giả làm mẹ con người nghèo khổ đi mò ốc, bắt cua để quan sát tình hình quân địch. Giờ đây, họ là đồng đội cũ, mấy chục năm trời mới gặp lại nhau. Mỗi người đều có một số phận, một mảnh đời, một chiến tích và sự bất hạnh khổ đau riêng nhưng tất cả đều vượt lên để tồn tại như một chứng nhân về báo công với Đại tướng.
Xin kể qua về chị Mỹ Ngọc. Chồng được cử ra Bắc. Một buổi chị và đồng đội đeo bòng đi lĩnh gạo thì máy bay địch ập đến đổ quân. Chúng không tìm thấy quân chủ lực, mà chỉ có trạm cứu thương dã chiến với vài nhân viên phục vụ. Chúng hốt cả lên máy bay, trong đó có đứa con ba tuổi của Mỹ Ngọc và cô trông giữ đứa bé. Hôm sau, chiếc máy bay rà lượn khắp cánh rừng. Loa phóng thanh địch réo xuống, kêu gọi chiến binh Việt Cộng chiêu hồi, cùng tiếng khóc thét của đứa con gọi mẹ.
Không gọi được Việt Cộng ra hàng, địch đưa đứa bé vào gửi một ngôi chùa, hứa hôm sau sẽ quay lại chụp ảnh. Ni sư trụ trì tinh ý bảo ngay: "cháu nhỏ quá, nó không chịu, để tôi ôm nó chụp cùng!...” Tên sĩ quan tâm lý lắc đầu. Cả đêm ấy Ni sư không ngủ. Bà nghĩ: Tốt nhất hãy cạo đầu cho nó để cái chỏm teo teo trước trán. Nhìn ảnh, bố mẹ nó sẽ yên tâm một phần vì con mình đã được nhà chùa chăm sóc.
Hình đứa bé được in vào truyền đơn, địch trải xuống khắp nơi, khắp chốn mà không có kết quả gì. Thời gian sau, vài chục đứa trẻ nhà chùa cưu mang được đưa về Sài Gòn. Mỹ Ngọc mất con từ bấy.
Số phận trôi dạt, may sao đứa bé được hai gia đình lần lượt nuôi dạy, cho ăn học tử tế. Cháu sáng dạ, thông minh, giỏi ngoại ngữ. Gia đình chủ coi như con ruột, có ý định gửi cháu qua Mĩ học. Cô bé không chịu với ý nghĩ: phải ở lại để lớn lên tìm bằng được mẹ ruột của mình...
Giờ, ra đây trong chuyến thăm Đại tướng, tôi khuyên chị nên liên hệ với báo, đài, nhờ truyền thông đại chúng. Chị lắc đầu mỏi mệt:
- Em đã làm hết cả rồi... đều vô vọng!..
- Chị hãy gặp Thu Uyên, nhờ chương trình "Như không có cuộc chia ly” tìm giúp!..
Sau lần gặp ấy, tôi vẫn theo dõi chương trình qua màn hình nhỏ. Chị Mỹ Ngọc xuất hiện. Lần một, lần hai, lần ba rồi lần bốn vẫn không có kết quả. Người chị gầy rộc, tóc bạc, răng đã long. Nhưng rồi lần thứ năm là màn kết thật có hậu. Chương trình "Như không có cuộc chia ly” đã cho mẹ con chị tìm thấy nhau. Bốn mươi hai năm dài đằng đẵng. Con chị hiện sống trong một gia đình tử tế và đang làm quản lý một cửa hàng lớn ở ngay quận Một, thành phố Hồ Chí Minh. 
Còn bác Thân - người chiến sĩ có ngoại hình cao lớn, có mặt chín năm ở chiến trường, đầu vẫn còn mảnh đạn, thỉnh thoảng lại tái phát cơn điên. Ngồi trong xe, bác cười rồi kể với Lý và chị Mỹ Ngọc những trận phục kích ở Đăccơle. Rồi những ngày hết gạo, vặt được quả đu đủ xanh ở bìa rừng, nhựa chảy ròng ròng, cứ thế đưa lên miệng nhai ngấu nhai nghiến. Quần áo mặc rách bươm, phải kiếm cả bao bố đựng cát của Mĩ về khâu dùng tạm. Còn vũ khí thiếu thì sáng chế bằng đủ cách: cưa vỏ đạn địch, tháo kíp, lấy thuốc nổ biến thành vũ khí của mình. Nhưng... cảm động nhất vẫn là sự hi sinh của ông Sự cứ ám ảnh mình mãi đến tận bây giờ. Ông là người chỉ huy thật sự có tài. Một lần được lệnh, ông trực tiếp dẫn đồng đội đi trừ khử tên ác ôn khét tiếng nhất, đã giết hại bao chiến sĩ và triệt phá bao cơ sở đằng mình.
Đêm tối như mực, vừa bò đến cửa Ấp chiến lược, không hiểu sao bị lộ. Địch vãi đạn như mưa và chốt chặn các ngả. Không thể rút về theo đường cũ, ông và đồng đội mở lối cắt rừng, lên một quả đồi. Từ đấy, phải vượt qua một đầm lầy sẽ về căn cứ.
Đêm dày đặc, không một vì sao. Nhiều cánh rừng như người khổng lồ bị găm bởi nhưng tia lửa đại đỏ rực. Mấy chiến sĩ vẫn lầm lũi bước, mở đường. Không may chiếc dép râu của một đồng đội vướng phải sợi dây rất nhỏ của bãi mìn Claymo mà địch giăng sẵn. Cả quả đồi ngập chìm trong tiếng nổ. Mấy chiến sĩ hi sinh, người bị thương vào mắt. Ông Sự bị gãy xương cẳng chân, phải náu mình vào bụi rậm. Trời chưa sáng hẳn, địch đã lồng lộn đổ quân. Hai bên nổ súng. Ông Sự bắn đến viên đạn cuối cùng. Tên ác ôn có nhiều nợ máu nghiến răng, bóp cò, găm vào ngực ông cả một băng đạn. Rồi nó ra lệnh: Chặt thủ cấp, hốt mấy người còn lại lên máy bay.
Ông Thân nhận lệnh khẩn cùng hai đồng đội đi giải cứu. Băng rừng, vượt suối nhưng đến nơi, những người lính đặc công, trinh sát vẫn không kịp. Dưới cái hũng còn hằn vết xích xe tăng, thi thể ông Sự nằm bất động. Đau xót đến ngạt thở, ông Thân nhảy xuống mà bước chân trượt dài tới hơn một mét. Loay hoay, ông kiếm tìm hòn đá, đặt lên phía đầu, rồi cùng mấy người dùng tay và cành cây cào đất phủ lên thi thể người chỉ huy của mình. Lúc ấy Lý và một bà má cũng vội đến, nhưng tất cả đều đã muộn.
Giờ, trong căn phòng chật, lúc Đại tướng cúi xuống kí tên, lưu bút tặng sách cho Lý và chị Mỹ Ngọc, chiếc quạt bàn vẫn lặng lẽ đảo cánh về hai phía, thổi gió nhè nhẹ, làm mái tóc của Đại tướng bay bay. Rất tự nhiên, Phu nhân nghiêng mình, xòe bàn tay vuốt vuốt cho chỏm tóc xẹp xuống. Một cử chỉ làm tôi tiếc mãi. Tại sao mình không mang theo máy ảnh, nên bỏ lỡ mất một cơ hội. Vì trong nhiếp ảnh nghệ thuật, đây là một khoảnh khắc đẹp, không dễ bắt gặp lần thứ hai. Cứ tưởng ra đây không được quay phim, chụp ảnh, nào ngờ lại được thoải mái tự do. May sao đồng chí cán bộ văn phòng cho đoàn chúng tôi chụp chung mấy tấm hình với gia đình Đại tướng làm kỉ niệm.
Rồi, còn một điều nữa, tôi cũng lăn tăn: mỗi khi có việc phải trình lên Đại tướng, đồng chí cán bộ văn phòng còn rất trẻ, nhưng một điều, hai điều đều: Thưa anh Văn... khiến tôi ngạc nhiên. Sau mới tự hiểu: đây có thể là cách xưng hô từ hồi còn "Nằm gai nếm mật ”, ở chiến khu Việt Bắc mà quân đội coi Đại tướng Võ Nguyên Giáp như ảnh Cả của mình; nên Đại tướng vẫn giữ nguyên nếp sinh hoạt ấy cho đến tận bây giờ.
Thì ra nỗi băn khoăn của mình từ lúc bước chân vào cổng: không chòi canh, không lính gác. Cách xưng hô của cấp dưới với Đại tướng vẫn thân mật và lễ phép như trong một gia đình. Còn nơi ở và chỗ làm việc của Đai tướng chỉ là một khu đất khiêm nhường nằm trên con đường mang tên người anh hùng Hoàng Diệu giữ thành Hà Nội cho đến hơi thở cuối cùng. Những điều ấy để ta hiểu ra rằng; Vì sao Đại tướng Võ Nguyên Giáp - một trong mười vị tướng lừng danh thế giới lại được cả dân tộc gọi là: Đại tướng của nhân dân, vì ông sống trong lòng dân.
Rất mong rồi đây, số nhà 30 Hoàng Diệu, một địa chỉ sẽ được tu bổ nâng cấp thành khu  lưu niệm lịch sử của một vị  "khai quốc công thần” mà ngay cả nhân dân thế giới cũng hết lòng ngưỡng mộ.
Suốt cuộc đời vì nước, vì dân một trăm linh ba tuổi” về thế giới bên kia, Đại tướng chỉ chọn cho mình một khu đất giữa lòng dân ở tại quê nhà - Vũng Chùa, Đảo Yến. Nhân cách ấy, tâm hồn ấy sáng tựa sao Khuê. Mong mỏi vào một ngày không xa, tôi được về nơi đây để được thắp một tuần nhang./.
                                                                                                                                                                              TRỊNH QUANG THÀNH