Liên kết website
 Thống kê
   Đang truy cập
82
Tổng lượt truy cập
88493

Trang chủ KỶ NIỆM NGÀY THÀNH LẬP QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

NGƯỜI THẦY TRONG TÔI
15:32 | 03/01/2019

Tôi trở lại nơi đây, chiều mùa thu tỏa nắng, nắng rực rỡ dát vàng lên dòng sông Cầu như một dải lụa uốn cong óng ả. Con đường cũ dẫn vào thành cổ soi mình bên hồ nước, cách bố trí kiến trúc theo đường lối nghệ thuật quân sự độc đáo. Thềm cổng vào được phủ một lớp rêu phong, hoài cổ, trầm mặc toát lên vè hùng thiêng của một Cấm thành. Kí ức thủa học viên ngày nào ùa về, những gương mặt thầy cô, bạn bè, kỉ niệm diễn tập, dã ngoại… như thước phim quay chậm trước mắt… khiến tôi nao nao nhớ về thầy cô. Người thầy để lại trong tôi nhiều kỉ niệm sâu sắc nhất không ai khác mà chính là Thiếu tướng Nguyễn Xuân Sắc, thời đó ông là Phó Giám đốc Học viện phụ trách bên cơ sở 2 (Sĩ quan Chính trị ngày nay).

 Lần ấy là cuộc diễn tập cuối khóa… Lệnh hành quân! Trật tự, im lặng, đội quân nhanh chóng cơ động ra vị trí trú quân, chúng tôi đứa nào, đứa ấy trên vai nặng nề quân tư trang, vũ khí trang bị cá nhân. Cơ động được khoảng một ki lô mét, hai vai tôi mỏi rời, bước chân oải dần, mồ hôi tứa ra, ba lô càng ngày càng nặng như đeo đá sau lưng, cảm giác lúc ấy chỉ cần ai đó đút thêm cái kim vào cóc ba lô cũng như thêm một sức nặng. 

Còn khoảng nửa tiếng đồng hồ mới đến vị trí trú quân tạm thời, chiếc ba lô ngày một nặng thêm, đôi vai tôi bắt đầu bỏng rát, có lẽ phải bỏ bớt mấy thứ trên ba lô đi. Nghĩ là làm, tôi đưa tay với ra sau, lấy bộ nẹp thương xuống, đảo mắt nhìn xung quanh rồi nhanh tay dúi vào bụi rậm ven đường, chiếc ba lô như nhẹ hẳn, cảm giác dễ chịu hơn, bước chân tôi cũng đỡ nặng nề. Nhưng chạy được một đoạn, ngay bên cạnh tôi, dáng người nhỏ gọn của một vị tướng xuất hiện, trên tay ông cầm chiếc nẹp thương, ông vừa chạy vừa quan sát đội hình. Qua vị trí nguy hiểm, ông chỉ đạo đạo diễn, lệnh cho các đơn vị dừng lại. Bên cạnh tôi ông nói: Không biết chiếc nẹp thương của đồng chí nào bị rơi ra… Tôi nhận lại cúi mặt nói “Thưa thầy! của em” rồi giấu mặt quay đi, thật xấu hổ. Đến khu vực trú quân tạm thời, tôi tìm đến Thầy, chân thành xin lỗi và xin chịu mọi hình thức kỷ luật. Ông nhìn tôi cười hiền nói: “Thầy biết cả rồi, nhưng thầy muốn thấy bản lĩnh dám làm dám chịu, sự thật thà của một người lính được rèn luyện, trưởng thành, giờ thì em đã làm được điều ấy, thầy tha thứ cho em. Hãy cố gắng, khó khăn phía trước còn dài”. Tôi thấm thía lời Thầy dạy và thầm nể phục cách khéo xử lý tình huống đầy tình người của một vị tướng quyền lực mà mộc mạc, sâu xa.

Cung đường hành quân cứ tiếp nối, vượt qua rất nhiều địa hình hiểm trở, những cái tên như 99 ngọn, Bê Tô, Phấn Sơn, Xóm Me… đã tạc thành hình hài trong ký ức. Những công sự nằm bắn, đoạn hào còn dang dở ở các điểm cao nơi chúng tối đến chưa xong thì lại được lệnh tiếp tục lên đường thực hiện nhiệm vụ. Tôi vẫn nhớ như in cái đêm nhận lệnh cơ động từ vị trí tạm dừng sang khu vực trú quân bí mật. Trời mịt mùng tối, những tiếng chân lạo xạo đạp đá gan gà bước miết, những sườn đồi cheo leo, cỏ cây như quấn vào chân người. Kệ trời, kệ đất, cúi mặt mà bước tới, bàn chân tôi và đồng đội cứ mải miết theo dòng. Người nọ bám người kia, im lặng không nói một lời, chỉ nghe thấy âm thanh phát ra từ những bước chân đạp lên sỏi. 

Đã hơn một ngày không tắm, quần áo lúc nào cũng nhão nhoẹt mồ hôi và bùn đất, người ngứa ngáy khó chịu, đôi chân như muốn rời ra, đã thế đôi giầy mới, bắt đầu chà sát vào bàn chân khiến tôi rát bỏng. Thế rồi cũng đến nơi, tôi như muốn đổ xuống, rụng rời chân tay, bàn chân đã đỏ tấy, không lê được nữa. Chị quân y bước tới ái ngại, định báo cáo lên các cấp, thì vị tướng ấy lại xuất hiện trước mặt tôi, ông ân cần nói với chị quân y: “Chịu khó lấy ít nước nóng, hòa loãng với ít muối ngâm chân cho cậu ấy”, rồi kéo chị quân y ra một chỗ, nói nhỏ gì đó tôi cũng không nghe rõ. Sáng hôm sau chân tôi đỡ hẳn, lấy giầy định đi vào thì có cảm giác êm nhẹ, tôi bỏ ra nhìn vào trong, một đôi lót giầy mới trắng tinh, nhìn kỹ, hình như đó là băng vệ sinh của phụ nữ, đang nghĩ không biết có ai “chơi” mình hay sao mà lại bỏ băng vệ sinh vào giầy. Bất chợt, chị quân y bước tới tươi cười: “Đó là ý của thủ trưởng đấy, em cứ đi giầy vào sẽ thấy nó có tác dụng”. Tôi miễn cưỡng xỏ giầy, quả thật sau khi đã được ngâm chân nước muối, giờ có thêm đôi lót giầy thần kỳ, chân tôi cũng bớt đau hơn. Thì ra những lúc khó khăn nhất, bằng kinh nghiệm và tình thương vô bờ bến, vị tướng ấy đã không quản hà nghĩ đến làm thế nào để đôi chân người chiến sĩ hết đau.

Có lẽ nhớ nhất vẫn là đêm trinh sát, khi chúng tôi đã trải qua rất nhiều đường đất và những khó khăn khác nhau, trước đêm tiến công “địch”, tôi được nằm trong đội trinh sát, nhiệm vụ của đội là đi nắm tình hình “địch” tại điểm cao 65, vẽ sơ đồ ghi nhớ các mục tiêu trong trận địa phòng ngự của "địch", cung cấp thông tin chính xác cho người chỉ huy lên kế hoạch chiến đấu.

Tổ chiến đấu chúng tôi gồm 3 người được phái đi trước. Thật bất ngờ, trước khi xuất phát vị tướng lại có mặt và căn dặn chúng tôi. Gặp ông tôi vừa mừng vừa lo, mừng vì được ông động viên quan tâm, lo vì nếu không hoàn thành nhiệm vụ ông sẽ thất vọng về tôi. Trời bắt đầu chạng vạng tối, mình trần, bôi trát lấm lem bùn đất, trên tay bộ dò gỡ cùng khẩu AK ép sát sườn lạnh cóng da bởi độ lạnh của sắt thép. Gió heo may xào xạc thổi, luồn lách qua những bìa rừng đầy cỏ và đá sỏi. Thằng An đi trước một đoạn, thi thoảng nó lại ra hiệu dừng lại vì có động, ba chúng tôi lại rạp người xuống đất giữ bí mật, mặc cho trời gió rét. Khi qua bãi tha ma, đêm vẫn mịt mùng tối, tiết trời lạnh đến thấu xương, những đốm trầm tích lập lòe lúc sáng lúc tắt, quyện mùi hương khói càng tăng thêm vẻ đìu hiu, hoang vắng, lạnh lẽo giữa cái đại ngàn của rừng núi. Ông cu Thắng được tiếng là có bản lĩnh và nhanh nhạy xử trí tình huống là vậy, thế mà lúc này không dám rời tôi nửa bước. 

Thế rồi chúng tôi cũng tiếp cận được tuyến phòng ngự ngoài cùng của “địch”. Lợi dụng đêm tối, chúng tôi bắt đầu dò gỡ mìn, tìm lối vào. Trước tôi là An sau tôi là Thắng, Thắng làm động tác quay ngược lại để quan sát phía sau và xóa dấu vết. Đang dò gỡ mìn, tự nhiên đèn bật sáng choang cả một góc, ba thằng tềnh ềnh trên mặt đất. Tôi nhanh trí lấy cái mũ rằn ri đang đội chụp ngay lên cái bóng đèn tai hại đấy, rồi ra hiệu cả đội tuyệt đối im lặng, cũng may địch chưa phát hiện ra nên bốn bề vẫn trong im lặng. Thì ra địch bố trí mìn phát sáng, vô tình An đã chạm vào dây vướng để nó bật sáng. Có tiếng ngoài xa kia của ai đó đang xì xào và có tiếng khen ngợi rằng ba chúng tôi rất nhanh trí. Tôi cố lắng nghe và đã rất vui bởi biết đó là lời khen của tướng Sắc. 

Đêm vẫn mịt mùng tối, thi thoảng trong trận địa “địch” những loạt AK cùng với các vệt pháo sáng bắn lên vu vơ soi sáng một góc trận địa. Trời bắt đầu lâm thâm mưa, những hạt mưa như kim châm vào da thịt, chúng tôi đều cởi trần bôi trát hóa thân vào phông nền để thuận lợi trong khi tiềm nhập vào trận địa địch. Tôi giục An nhanh chóng xác định cửa mở, đánh dấu lại, dùng chống chui tạo ra đường mở qua hàng rào địch, nhanh chóng vượt qua các lớp hàng rào để đánh dấu, ghi nhớ các vị trí của lô cốt đầu cầu và một số mục tiêu, hỏa điểm quan trọng của địch rồi rút ra ngoài. Nếu không nhanh, mưa sẽ làm trôi hết lớp đất bùn trên người, thằng nào thằng đấy trắng như lợn cạo thì lộ hết cả. Đang loay hoay với lớp hàng rào cuối cùng thì Thắng phía sau không cẩn thận để tay chạm vào những cái ống bơ địch treo trên hàng rào làm phát ra những tiếng lóc cóc, leng keng liên hồi. Chỉ đợi có thế, tiếng la hét, tiếng chân người dồn dập, tiếng súng loạn xạ từ phía đỉnh đồi dội xuống ngày một gần. Nằm yên bất động, thoáng nghĩ trong đầu vậy là hết, bao nhiêu công lao đổ xuống sông xuống biển, bỗng có tiếng mèo hoang từ phía sau tôi nghe rờn rợn… Tiếng xì xào bàn tán của địch rồi bước chân xa dần, tôi thở phào nhẹ nhõm. 

Hoàn thành nhiệm vụ, ghi nhớ các mục tiêu quan trọng, rút ra vị trí an toàn, cũng là lúc trời không còn mưa nữa. Đêm đã thật khuya, ánh trăng bàng bạc trên lá, những giọt mưa chưa kịp rơi xuống như đốm mắt trinh nữ long lanh. Ba thằng chúng tôi chụm lại dưới hào giao thông chờ mũi khác cùng về, nhớ lại tiếng mèo hoang tôi hỏi, Thắng nói không phải là của nó, vậy là của ai? Nó mới à lên một tiếng rồi nói: “của tướng Sắc”, ông đã cứu chúng tôi một bàn thua trông thấy. Bắt đầu khi tiếp cận hàng rào, tướng Sắc luôn đi sát, theo dõi hành động của chúng tôi, khi chúng tôi đang lúng túng chưa tìm ra cách xử trí tính huống, ông đã dạy cho chúng tôi biết linh hoạt xử trí như thế nào cho đúng với hoàn cảnh thực tiễn. Lại một bài học nhớ đời nữa mà tôi không bao giờ quên được của một vị tướng dành cho.

Trận tiến công “địch” sáng hôm sau đã chiến thắng vang dội, đội trinh sát được biểu dương vì có thành tích tìm đúng điểm mở, cửa mở và các mục tiêu quan trọng, góp phần vào sự thành công chung của cuộc diễn tập năm đó. Sau này ra trường, công tác tôi vẫn không sao quên được hình ảnh mộc mạc, giản dị, gần gũi và những bài học nhẹ nhàng nhưng vô cùng sâu sắc, ý nghĩa ông đã dạy. Mỗi khi có dịp tựu trường tôi đều có ý thức tìm lại ông để được nhìn thấy ông, biết được ông sức khỏe ra sao, để được hỏi han, học ở ông về những kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ huy quân làm hành trang bổ sung cho kiến thức để trưởng thành hơn nữa, xứng đáng với những bài học ông tin trao./.

                                                                                                                                                                             LÊ VĂN SỸ