Trang chủ Văn học Truyện ngắn

NGƯỜI THẦY GIÁO THƯƠNG BINH
10:42 | 30/11/2018

 “…Anh thương binh vẫn đến trường làng, vẫn ôm đàn dạy các em thơ bài hát quê hương.... bài hát của người lính đã hi sinh âm thầm, cho hôm nay những gót chân son vui quanh dấu chân tròn..."

Mỗi lần nghe âm vang của những lời ca trên tôi lại nhớ đến người thầy - người chiến binh, thương binh là đồng đội của bố mẹ tôi, người đã có những năm tháng hiến dâng tuổi thanh xuân đẹp nhất của mình cho cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của dân tộc ta ở thế kỷ XX. Đó là thầy giáo Nguyễn Công Duyệt, sinh ngày mồng 2 tháng 2 năm 1947, nguyên giáo viên Lịch sử trường Cấp 3 Tiên Du, Bắc Ninh từ 1978 đến 1991; giáo viên sáng lập trường THPT Dân lập Tiên Sơn đầu tiên của tỉnh Hà Bắc (1997 - 2007). Hiện thầy đã nghỉ hưu, đang sống cùng gia đình tại ấp Đồng Bông, thôn Liên Ấp, xã Việt Đoàn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. 

Một chiều chớm thu, đúng ngày khai giảng tôi đến thăm thầy. Thấy có khách, thầy ngồi dậy, lắp vội chiếc chân giả để đón…”cái Hồng” – đứa con của người đồng đội, nay đã là một cô giáo cấp 3 trường huyện…đã có 18 năm trong nghề.

Trước mắt tôi là một ông già với dáng người gầy gò, tóc bạc như cước, cử chỉ nhanh nhẹn, phát ngôn thông minh, hoạt bát. Thầy tiếp tôi trong tâm trạng bâng khuâng, bồi hồi… khi tiếng trống ngày khai trường ngoài kia như còn vang vọng trong tim.

Có tiếng con chim khách kêu lảnh lót trong khu vườn đầy nắng gió và hoa trái, thầy ân cần rót cốc nước chè xanh biếc, thơm ngào ngạt, rồi nhìn tôi mỉm cười:

- Mời cô giáo!

Tôi hai tay đỡ lấy cốc nước mà lòng dạ rưng rưng. Tiếng thầy tâm sự đều đều, nhỏ nhẹ, hiền từ như cha nói với con…

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân có truyền thống cách mạng, thân phụ thầy nguyên là Trưởng công an xã Việt Đoàn từ những năm ta mới giành được chính quyền. Gia đình thầy có tới 7 anh chị em, thầy là con thứ 3, kinh tế gia đình luôn vào cảnh túng bấn, chạy ăn từng bữa. Chàng trai Nguyễn Công Duyệt lúc đó chỉ có một mơ ước bình dị, giản đơn là mình phải có sức khỏe để lao động, giúp đỡ bố mẹ, nuôi bốn em ăn học. 

Vậy là năm 1964 thầy nghỉ học cấp 3, xung phong vào làm công nhân xây dựng nhà máy Phân đạm Hà Bắc. Sau một năm lao động miệt mài, chăm chỉ, anh công nhân Nguyễn Công Duyệt được nhà máy bình tuyển, xét, chọn cho đi học chuyên nghiệp. Anh đã trúng tuyển vào trường Trung cấp Kiến trúc Thanh Hóa. Sau 2 năm “dùi mài kinh sử” (1965 - 1967), tốt nghiệp ra trường với tấm bằng Trung cấp kiến trúc loại giỏi, anh được điều động về công tác tại Ban Kiến thiết Cơ bản tỉnh Lạng Sơn. Lúc đó cán bộ trung cấp kỹ thuật ở cấp tỉnh là cực kỳ quý hiếm, cuộc đời thầy – một thanh niên nông thôn, sau 3 năm phấn đấu, được như vậy là toại nguyện lắm rồi. Giọng thầy bỗng nhiên chùng hắn xuống, thầy ngâm nga những vần thơ tâm đắc:

"Ai ngờ… dây sắn, cọng khoai

Phổng phao nên gái, nên trai chúng mình

Bỗng đâu bom dội sân đình

Rủ nhau … khoác áo chiến binh lên đường

Dập dình… thương… chửa dám thương

Hẹn nhau ra bãi chiến trường tìm nhau (?)

Người vào KaNak, Cà Mau…

Kẻ ra Ái Tử, Đầu Màu, Cam Ranh…

 

Máu người nuôi đất thêm xanh

Tình người năm tháng đã thành bài ca

Nông gần, sâu hoá nên xa

Mong manh đời lính lại là biển khơi".

Rồi thầy giải thích rành rọt: Hồng có biết KaNak là địa danh nào không? Đồn KaNak thuộc huyện Kbang tỉnh Gia Lai. Tại đây ngày 07 tháng 03 năm 1965 đã xảy ra cuộc chiến ác liệt giữa Quân Giải phóng và bọn xâm lược Mỹ, quân ta đã anh dũng chiến đấu ngoan cường, gần một ngày quần nhau với địch với hàng chục đợt tấn công bao vây tiêu diệt địch, cả hai bên tổn thất đều lớn, phía quân ta đã phải hy sinh tới gần 400 cán bộ, chiến sĩ mới giải phóng được cứ điểm án ngữ quan trọng này của giặc Mỹ. Thật là đau xót! 

Thì ra đầu năm 1970 người thanh niên - chàng trai Kinh Bắc – một chuyên viên kỹ thuật còn trẻ măng của Uỷ ban hành chính tỉnh Lạng Sơn đã mơ ước được đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ Quốc: tòng quân lên đường đánh Mỹ. 

 Anh được biên chế về tiểu đoàn độc lập K63 huấn luyện tại Đại Từ, Bắc Thái. Thế là phải… tạm xa ước mơ làm “cán bộ”, tạm xa ước mơ làm giàu; tạm xa cha mẹ, bỏ lại sau lưng lời ước hẹn của cô gái làng bên; để sau 3 tháng huấn luyện, chàng binh nhì Nguyễn Công Duyệt và đồng đội đã nhận lệnh vào chiến trường B chiến đấu. Sau mấy tháng dòng hành quân vượt đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, anh và đồng đội đã đã được bổ sung vào một đơn vị tại chiến trường Tây Nguyên.

Thầy đã sống và chiến đấu suốt ba năm tại chiến trường tỉnh Gia Lai, mặt trận Tây Nguyên; nơi có đồn KaNak, một chiến tích bi hùng, đầy máu và nước mắt; nơi đã diễn ra nhiều trận chiến khốc liệt giữa quân giải phóng và bọn xâm lược Mỹ. 

Vào một đêm định mệnh, mũi tiến quân của tiểu đội trưởng Nguyễn Công Duyệt đang bí mật hành tiến tiếp cận mục tiêu địch thì đã bị trúng mìn Clâymo. Đồng đội hy sinh gần hết, tiểu đội trưởng Nguyễn Công duyệt bị thương rất nặng, anh đã phải để lại cẳng chân trái của mình tại chiến trường Tây Nguyên.. 

Cuối năm 1973 anh được ra Bắc. Chàng thương binh, người lính quả cảm, thân mình không còn nguyên vẹn ấy lạị nuôi mơ ước làm thầy giáo. Anh đã thi vào khoa Lịch Sử của trường Đại học Sư phạm Hà Nội, với ước nguyện truyền dạy cho thế hệ trẻ hiểu được thật nhiều về lịch sử 4000 năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam mình. Hình hài Tổ quốc ta có được như ngày hôm nay không phải chỉ đánh đổi bằng sức lực, trí tuệ, bằng mồ hôi, nước mắt mà bằng cả máu xương của bao liệt sỹ đã hiến trọn tuổi xuân của mình cho Độc lập – Tự do của Tổ quốc. 

Năm 1978, tốt nghiệp đại học, anh về trường cấp 3 tại quê nhà dạy học. Những bài giảng về Lịch sử của thầy bao giờ cũng sinh động, mang nhiều cảm xúc, chưa đầy nhiệt huyết, kí ức của người lính đã từng trải qua một thời trận mạc, khói lửa, đạn bom.

Từ thực tế bản thân đã từng trải nghiệm qua các chiến trường, rồi từ những kiến thức đã học, thầy tái hiện chân thật, sinh động những cuộc chiến tranh giữ nước của dân tộc, tiếp lửa truyền thống yêu nước trong tâm hồn học trò; những bài giảng của thầy được khắc sâu trong trí nhớ của bao lớp trò thân yêu  nó đã trở thành nghị lực, hành trang cuộc sống để các em tự tin bước vào đời, mang trong mình những lý tưởng, những hoài bão, khát vọng lớn lao của thế hệ trẻ với non sông đất nước.

Hơn ba mươi năm trong nghề dạy học, đã có bao lớp học trò của thầy trưởng thành, đã đóng góp công sức, kiến thức, trí tuệ xây dựng quê hương đất nước. Rất nhiều em trở thành bác sĩ, kỹ sư, nhà khoa học, những doanh nhân thành đạt... 

Thoáng chút suy tư, thầy hồi ức lại những năm bao cấp khó khăn, vất vả. Ngày ấy đồng lương giáo viên cấp 3 không đủ nuôi sống gia đình. Thầy mơ ước, ước ao “có bát ăn, bát để”… nuôi hai con nhỏ thành người và ổn định cuộc sống gia đình. 

Thế là… thầy vừa dạy học vừa tranh thủ cuốn pháo, cuốn thuốc lá, làm đậu, nuôi lợn, trồng rau, cấy lúa... rồi trồng cây lâm nghiệp, làm vườn trại cải thiện kinh tế. Với người bình thường thì công việc ấy đã vất vả lắm rồi, với thầy lại là cả một sự khó nhọc, hy sinh. 

Năm 1991, thầy nghỉ hưu theo chế độ. Thế nhưng với truyền thống, bản chất của người lính cụ Hồ, người thầy mẫu mực ấy vẫn muốn cống hiến thật nhiều cho xã hội và cũng để trang trải cuộc sống, nuôi hai con học đại học, nên thầy đã tiếp tục dạy học thêm 11 năm nữa tại trường cấp 3 tư thục ở huyện nhà. Có thời kỳ một mình thầy đảm nhận chủ nhiệm tới 3, 4 lớp. Với tác phong làm việc trách nhiệm, tận tụy, nghiêm túc, thầy luôn được đồng nghiệp, phụ huynh và học sinh yêu mến, kính trọng.

Thầy mỉm cười tâm sự: Bác cũng như hàng nghìn, hàng vạn thương binh chống Pháp và chống Mỹ đang lặng yên, bình thản sống giữa đời thường, trong tình thương yêu quý trọng của bà con làng xóm và đồng chí đồng đội năm xưa… Cảm ơn các cháu đã nhớ đến người thầy giáo thương binh, đã tìm hiểu về những ước mơ, nguyện vọng chân chính của những lớp người… xưa ấy(!). Bác đã mơ ước được lao động, mơ ước được làm thầy, mơ ước được hy sinh vì Tổ quốc, mơ ước …đó chính là những ước mơ “hồng" đấy cháu ạ! Bây giờ có khi người ta lại cho là… lẩm cẩm, chập mạch cũng nên:

"Ngày xưa đã có một thời…

Đường ra mặt trận là nơi hẹn hò,

Ngày xưa thao thức tới giờ

Được đi giết giặc còn ngờ chiêm bao".

Mà… nghề thấy giáo nhiều khi cũng thấy tự hào lắm lắm Hồng ạ! Trong một buổi gặp mặt truyền thống, có người đàn ông ăn mặc lịch lãm, lễ phép đến bên thầy: “Thưa thầy! thầy còn nhớ em không ạ? Em là Nguyễn Nhân Chiến học trò cũ của thầy đây ạ”!..? 

Thầy thoáng bồi hồi, sau một phút suy tư thầy đã nhớ ra cậu học trò thông minh, hoạt bát, lém lỉnh ngày xưa, nay đã làm đến Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Bắc Ninh. Mắt thầy ánh lên niềm vui sướng tự hào vì có những học trò xuất sắc như vậy. Thầy cũng kể rành rọt từng họ tên và những khuôn mặt thân yêu của các trò đã theo tiếng gọi của Tổ quốc lên đường nhập ngũ và đã anh dũng chiến đấu hy sinh, “trở thành” Liệt sỹ trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của dân tộc.

Chia tay thầy khi những làn sương thu đã giăng lối nhưng hình ảnh về người thầy, một thương binh đầy nghị lực, kiên cường với chiếc nạng gỗ và ánh  mắt trìu mến của thầy vẫn luôn đọng lại trong tâm trí tôi./.

                                                                                                                                                                                                 THU HỒNG