Trang chủ Văn học Truyện ngắn

NGƯỜI CHỞ ĐÒ ĐÊM
13:53 | 16/10/2018

        Lâu không có mưa nước sông trong vắt. Ở bên bồi nhìn rõ từng con ốc đang cặm cụi vẽ những đường ngoằn nghèo, trên đất phù sa mịn thín. Bên lở, bờ đê như bức tường thành lồi lõm, dấu tích của những cơn sóng mùa lũ bão đã đi qua. Gió Đông Nam thoang thoảng. Mặt trời phía đông hừng lên một quầng sáng như ánh lửa đám cháy, báo hiệu một ngày nắng nôi còn sót lại của cuối hạ đầu thu. Suốt đêm qua ông Đức không sao ngủ được, vì ánh trăng lồng lộng và gió cứ thổi dọc triền đê, đưa mùi phù sa, mùi ngô non về quấn quýt. Giống hệt hôm nào, ông đưa mẹ con người phụ nữ sang sông. Sáng nay ông dậy sớm diện bộ quân phục vẫn để dành, lên đò thanh thản châm một điếu thuốc, ngả người dùng chân khua nhẹ mái chèo, sang bên kia sông...

Ông Đức làm nghề chèo đò sau một bi kịch của gia đình: Năm ấy từ chiến trường Tây Nam bộ ông được ra Bắc điều dưỡng, rồi phục viên về quê lấy vợ. Vợ ông lần lượt sinh cho ông hai thằng con trai kháu khỉnh. Một vợ hai con chẳng giầu, chẳng nghèo, gia đình ông cũng đầm ấm như hàng trăm, hàng ngàn gia đình khác. Rồi một ngày: Gã bác sỹ chuyên khoa sản của bệnh viện huyện, trong trạng thái hoảng loạn đến gõ cửa nhà ông. Hắn bảo: “Hai đứa con mày nuôi là con của tao, hãy trả nó cho tao”. Ông như người ngủ bị đánh thức bởi những hạt mưa hắt qua cửa sổ, không kịp phản ứng gì đứng trơ ra. Vợ ông tái mặt. Bà giải thích: “Vợ và hai con nó vừa bị tai nạn giao thông, chắc nó nhầm anh với người gây ra tai nạn”. Ông hiểu ra, thông cảm: “Thôi mày về đi, không phải tao đâu”. Hắn lùi lũi ra về.

Lần thứ hai hắn đến. Lần này hắn tỉnh táo đặt vấn đề: “Tôi là con trưởng, phải có người nối dõi. Ông không có con, hai đứa là con tôi, hãy cho chúng về với bố nó”. Nhìn gương mặt tái nhợt, nghĩ đến vợ và hai đứa con hắn vừa mất. Ông kìm bực tức: “Mày về đi, nếu đúng con mày tao sẽ trả”. Hắn bước ra cổng còn quay đầu lại: “Nhớ đấy”. Tưởng mọi chuyện đã đến hồi kết thúc, như câu chuyện đùa tếu. Ai ngờ. Lần thứ ba hắn lại đến. Hắn đứng, tay nắm vào cánh cổng trâng tráo: “Thế nào, ông đã đi kiểm tra chưa”? Nửa tin, nửa ngờ, ông lầm lũi bước vào nhà. Hôm sau không nói với ai, ông tìm đến bệnh viện. Để cho chính xác, ông đến kiểm tra cả ở ba viện lớn trong thành phố. Thật bất ngờ. Cả ba viện đều kết luận: ông không thể có con vì di chứng chất độc mầu da cam. Ông như phát điên, thì ra từ trước tới nay “chích choè nuôi con tu hú”. Trên đường về ông mua can xăng, dội xuống mái nhà. Trong trạng thái khùng điên, ông châm lửa. Rất may dân làng kịp tới ngăn lại.

Ném tờ bệnh án xuống trước mặt vợ, lúc đó bà đang quỳ dưới chân ông. Ông gào lên: “Mày giải thích đi”. Bà như cọng dưa ủng không che giấu được nữa, đành phải nói ra sự thật. Sau ba năm vì quá nóng lòng muốn có con, bà đến chỗ gã bác sỹ sản khoa. Hờ hững quặc chiếc ống nghe vào tai, sờ nắn người bà, hắn bảo: “Với em chỉ một liều thuốc là có con ngay. Chủ nhật đến phòng khám tư của anh mà lấy thuốc”. Nhẹ dạ, khấp khởi, đúng hẹn bà đến. Hắn hoà thuốc vào chiếc cốc nhỏ đưa cho bà. Bà uống không mảy may nghi ngờ. Uống xong bà chỉ còn ảo giác, lúc tỉnh dậy bà thấy đang trên giường với hắn. Bà có mang đứa con trai thứ nhất. Như cua trong rọ, như cá trong hom, ngựa quen đường cũ bà có đứa thứ hai.

Nghe vợ nói nỗi căm tức ứ lên tận cổ, ông đẩy vợ ra khỏi chân mình. Nhục nhã ê chề vì bị lừa, bị phản bội, ngay trong đêm ông viết đơn ly dị. Khi ba mẹ con ra khỏi ngôi nhà, thì sự trống vắng và kí ức trở về thiêu đốt ruột gan ông. Ông tả tơi như tầu lá chuối ven sông gặp bão. Ông quyết định, phải thoát khỏi ngôi nhà chất chứa quá nhiều kỷ niệm. Ông gấp rút chuẩn bị cho một chuyến đi xa, về với những cánh rừng miền Tây Nam Bộ. Đúng dịp đó, trại điều trị bệnh phong được chuyển từ miền trung ra, tiếp quản trường sư phạm mười cộng ba, thời chiến tranh sơ tán về nơi cửa rừng. Đường tới trại phong phải đi qua một cây cầu, rồi đi dọc bờ sông hai mươi cây số mới tới đường rẽ vào trại. Từ khi trường sư phạm về lại thị xã, nơi ấy trở thành hoang vu, lau lách um tùm, rất khó khăn cho việc đi lại. Trại phong cần một người chở đò, để rút ngắn cung đường. Vì đối diện với đường vào cửa rừng, bên sông là làng quê chợ búa. Trại đặt vấn đề với xã. Xã thông báo tìm người, nhưng dư âm của bệnh hủi, bệnh cùi còn đeo đẳng, nên không tìm được ai. Ông Đức nghe tin. Ông vội đạp xe xuống uỷ ban: “Không ai nhận, các đồng chí để tôi”. Ông Chủ tịch thở phào, như nhà khảo cổ vừa tìm thấy cổ vật. “Thế thì tốt quá, hoan nghênh tinh thần đồng chí”. Ngay sáng hôm sau ông Chủ tịch đã dẫn ông, và đại diện của một số ban nghành có liên quan, ra bến sông. Đứng trên bờ bối ông chỉ xuống chân mình: “Ngay tại đây, chúng tôi sẽ làm cho đồng chí ngôi nhà ngói cấp bốn hai gian và cái bếp nhỏ. Xã chẳng có khoản kinh phí nào để trả lương, nên đồng bãi khu vực này giao tất cho đồng chí, để tự cung tự cấp”. Ông trở thành người chở đò từ đó.

Bến đò của ông ít khách. Bởi người lành lặn không ai xuống con đò chở người bệnh phong, còn người bệnh phong thì mặc cảm ngại không dám sang đò chợ búa vì sợ bị người đời hắt hủi, ghẻ lạnh. Ông Đức thành người tiếp phẩm, và chở những chuyến đò đêm.

Chiều, chiều, những bệnh nhân phong cứ đứng như xếp hàng dưới tán cây si già ở bờ sông, đợi ông mang đến những thứ mà họ nhờ mua, bán. Lần đầu tiên ông nhìn thấy họ, tim ông như bật khỏi lồng ngực, bủn rủn cả người. Không ai còn nguyên vẹn cả. Người không tai, người không mũi, người co rụt chân tay, lộ cộ như những bức phù điêu trên tường tháp cổ, bị thời gian mưa nắng làm lở lói. Nhưng ông kịp trấn tĩnh, nhủ thầm mình đang bước vào trận chiến mới, phải dũng cảm lên. Một lần, hai lần mọi cái quen dần, rồi trở thành thân thuộc. Theo nguyện vọng của họ, ông chèo những chuyến đò đêm đưa họ sang sông, để nhìn ngắm làng quê cho đỡ nhớ nhà. Có hôm cao hứng ông còn chở họ đi đò dọc lên thị xã, về đến bến cây si thì trời đã hửng sáng. Ông đã hoà nhập vào cộng đồng những người bệnh phong từ lúc nào không biết. Ông quên đi bi kịch của chính mình.

*

... Từ xa ông đã nhìn thấy bà Hồng khoác chiếc túi vải thập thễnh trên đường ra bến sông. Ông khua mạnh mái chèo ghé mạn đò vào bờ, bắc tấm gỗ cho bà xuống, ông hỏi: 

- Mọi thủ tục ra viện cô làm xong hết chưa?

- Dạ xong rồi. Sáng qua các bác sỹ kiểm tra lại lần cuối, kết luận em đã khỏi hẳn - Bà cười - Nhưng về quê với bàn chân co quắt thế này cũng hơi ngại.

- Ngại gì? Thiên hạ đầy người tật nguyền bằng mấy cô, họ vẫn tự tin mà sống đấy thôi. Mọi cái cốt ở chính mình.

Ông Đức đẩy mạnh con đò ra khỏi chỗ mắc cạn, rồi bước lên khoang lái. Đò từ từ rời bến...

Cái đêm ánh trăng lồng lộng và gió cứ thổi dọc triền đê, đưa mùi phù sa, mùi ngô non về quấn quýt là cái đêm ông Đức đưa mẹ con bà Hồng sang bên kia sông. Đêm ấy, hết buổi phát thanh Quân đội nhân dân, ông Đức đặt lưng xuống giường mãi vẫn không ngủ được. Ông đẩy cửa bước ra ngoài, định ra bãi sông đi dạo một vòng về cho dễ ngủ. Vừa bước được vài bước chưa ra khỏi chiếc sân nhỏ, ông giật mình khựng lại. Có bóng người ngồi co ro dưới gốc cây trứng cá. Ông lùi bước, cất tiếng hỏi: “Ai đấy! khuya rồi còn ngồi làm gì ở đây”? Một giọng phụ nữ yếu ớt cất lên: “Dạ em. Em nhờ anh đưa sang sông, nhưng khuya rồi ngại không dám gọi”. Ông Đức hiểu ra: “Ngại gì, thôi vào nhà đã”. Người phụ nữ chậm chạp đứng lên. Bấy giờ ông mới nhận ra, cô còn bế theo một đứa bé. “Con của cô à”? “Vâng ạ”. Ông bật điện và kéo cái ghế băng cho người phụ nữ ngồi. Chị còn trẻ, chắc phải kém ông chín mười tuổi. Mảnh mai, có khuôn mặt trắng xanh xao, tóc dài chải gọn về phía sau búi thành một búi, chân đi như người bị cứng khớp. Đứa trẻ còn rất bé, nó được quấn trong chiếc chăn trấn thủ nhỏ. Mặt ửng đỏ, tóc lưa thưa, mỏng mảnh như những sợi tơ nhện. Ngủ mà miệng nó vẫn chóp chép như đang bú. Ông Đức hỏi: “Cháu được mấy tháng rồi:? “dạ mới h...a...i”. Người phụ nữ chưa đáp xong bỗng gục xuống bàn. Ông hốt hoảng đỡ dậy, bế hai mẹ con lên giường. Lạ thật, thằng bé vẫn ngủ mơ màng. Ông xoa dầu người phụ nữ tỉnh lại. Ông hỏi: “Cô ăn uống gì chưa”? Chị lắc đầu. Ông vội pha cho chị cốc nước đường uống tạm, rồi đi nấu cơm. Khuya lắm mọi việc mới xong, ông đưa hai mẹ con ra đò. Người phụ nữ bảo: “Em có người nhà cách bến gần thôi, anh cứ cho em qua sông là được”. Ông Đức định hỏi cho ngọn ngành, bởi bên sông không có nhà dân, ngoài con đường trải đá dăm trắng vào trại phong cửa rừng, nhưng ông ngại đành thôi.

Trăng sáng mặt sông lấp lánh, không gian tĩnh lặng chỉ có tiếng sóng ì oạp vỗ vào mạn đò, và tiếng mái chèo đều đều, phầm phập chém xuống mặt nước. Người phụ nữ lặng lẽ như bức tượng, ôm con ngồi trong khoang. Con đò cô đơn trôi trên sông. “Đến bến rồi đấy”. Ông Đức đánh tiếng, rồi áp mạn đò vào bờ. Trời tối sẫm, bởi có đám mây đang vần vũ che khuất vầng trăng. Ông Đức lấy đèn pin chỉ lối cho người phụ nữ: “Cô cứ đi theo đường này là lên đến bờ đê, đường ngắn và dễ đi thôi”. Người phụ nữ chần chừ. Ông tưởng chị luấn quấn vì phải bế con. Ông đứng lên: “Cô đưa tôi bế cháu cho”. Người phụ nữ như không nghe thấy ông nói. Ông Đức lại giục: “Ta đi thôi”. Chị oà khóc tức tưởi: “Anh ơi, mẹ con em đến trại phong”. Ông Đức sững người, vừa giận, lại vừa thương. Ông gắt: “Sao không nói lúc còn bên sông? Vào trại phong đêm hôm thế này ai người ta tiếp nhận, mà mẹ con cô đi thế nào được năm cây số nữa? Thôi cô bế cháu vào khoang đi, quay lại mai rồi tính”. Con đò lặng lẽ quay đầu trở lại. Bóng cây si già để lại một khoảng tối sẫm trên sườn đê. Trăng đã sáng trở lại. Giọng người phụ nữ đều đều, kể lại đoạn đời của mình, như một lời thanh minh với ông Đức.

Chị tên là Hồng. Năm ấy chị gái Hồng từ quê chồng về thăm bố mẹ. Buổi tối cả nhà sum vầy. Chị nói: “Tao giới thiệu cho mày một đám trong làng, nhà có sáu chị em, hai chị đã đi lấy chồng, có mình nó là con trai út. Giàu lắm, thóc trong buồng cót to, cót nhỏ, ăn lưu năm này sang năm khác. Chỉ phải cái thành phần phú nông, nhưng khi sửa sai thì xuống trung nông rồi”. Bố nghe thấy thế bảo: “Giá thành phần bần nông thì tốt, chứ phú nông mà xuống trung nông thì phải xem xét cẩn thận”. Mẹ nguýt dài: “Ối dào thành phần quan trọng gì đâu, bao giờ thế giới đại đồng đều thành vô sản hết. Con gái cứ làm dâu nhà nào, có của ăn của để cho đỡ đầu tắt mặt tối là được”. Cậu em trai thì cười: “Con gái có thì, lấy đi không lại ế sưng ế xỉa”.

Tháng sau. Anh con trai được chị gái Hồng dẫn đến. Nhìn dáng người nhỏ thó, đen đúa, lại hút thuốc lào nhả khói như người ta hun chuột, Hồng không muốn nhận lời. Mẹ khuyên: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn. Xem ra nó cũng hiền lành chịu khó, lấy nó, về đấy cho có chị có em con ạ”. Chị gái Hồng lại nước đôi: “Khối thằng đẹp mã lại lười chẩy thây, tôi giới thiệu như thế còn tuỳ gì. Ép dầu ép mỡ, ai nỡ ép duyên”. Bố thì chẳng quan tâm gì đến sự giầu nghèo, và hình thức con rể tương lai. Ông đặt vấn đề: “Thành phần trung nông mà chấp hành tốt chính sách, pháp luật của nhà nước là được”. Thương bố mẹ, thương chị, nghĩ đến cảnh “thóc trong buồng cót to, cót nhỏ, ăn lưu năm này đến năm này đến năm khác”. Hồng gật đầu.

Ngày đầu tiên về nhà chồng, đứng trước cái sân gạch rộng và hai dẫy nhà ngang dọc, có vườn cây ăn quả thân xù xì nổi những u bướu, như động vật bị biến đổi gien, Hồng mừng thầm. Nhưng tâm trạng ấy diễn ra không lâu. Khi Hồng có mang cơ thể cứ quặn quẹo và thường xuyên ốm vặt, ra bệnh xá khám. Cô y sỹ nói chắc như đinh đóng cột: “Làm nhiều, nghỉ vài hôm khắc khỏi”. Hồng cũng tin như thế. Khi sinh con thấy chân mình có những đám sát đỏ, không còn cảm giác nóng lạnh. Hồng bảo chồng đưa đi viện kiểm tra. Bệnh viện kết luận Hồng bị bệnh phong, họ giới thiệu đi trại điều trị. Hồng không tin vào mắt mình khi đọc tờ bệnh án. Cô hoảng hốt gục ngay xuống chiếc ghế trước cửa phòng khám. Chồng Hồng mặt tái ngắt, chân tay run bần bật, mặc cho vợ đang ngất xỉu, anh ra bến xe về thẳng. Gần trưa Hồng được nhân viên bệnh viện cứu chữa tỉnh lại, nhìn quanh không thấy chồng, cô như kẻ mộng du ngơ ngẩn tìm đường về nhà. Mặt trời lặn vừa về đến nhà, Hồng bủn rủn cả người. Ngõ nhà cô đã được rắc vôi bột trắng xoá. Quần áo, chăn màn của bố mẹ chồng, của các chị, đã được ngâm bồ tạt luộc sôi sùng sục. Chồng Hồng ngăn Hồng lại. Giọng anh như người xa lạ: “Cô tạm ra ngoài vườn. Chỉ tại tôi lấy vợ chẳng chịu kén tông. Mọi việc giữa chúng ta phải được giải quyết xong ngay trong đêm nay”. Nói thế nhưng không chờ đến đêm, chỉ trong chốc lát chồng Hồng đã trở lại với tờ giấy trong tay. Anh đứng từ xa: “Tôi đã viết đơn ly hôn. Cô phải thông cảm tôi là con một. Cô đồng ý thì ký vào đây. Con tôi để cho cô nuôi vì nó chắc cũng bị bệnh, cô đi điều trị thì cho nó cùng điều trị”. Tài sản tư trang cô lấy gì thì lấy, không lấy thì để tôi đốt”. Hồng nghẹn ngào, qua làn nước mắt thấy bóng chồng nhoà lẫn ánh lửa đang cháy bùng dưới chiếc chảo gang luộc quần áo, như con quái vật đen đúa, tua tủa những vòi đang chồm về phía cô. Hồng nghĩ, nơi đây không còn chỗ cho cô. Đi nhanh đến giật lấy tờ giấy, Hồng gằn rõ từng tiếng: “Đưa bút đây tôi ký”. Đêm ấy hai mẹ con Hồng ra ga đi chuyến tầu đêm, tìm đường đến trại phong.

Nghe xong câu chuyện của Hồng, ông Đức ngậm ngùi: “Thôi mọi chuyện đã xảy ra rồi, đành phải chịu. Tối nay cô ở lại đây, ngày mai tôi sẽ đưa cô đến trại phong. Riêng cháu bé thì phải tính. Bệnh phong không di truyền, nếu cháu chưa bị lây thì không để cháu theo cô được”. Hồng ngạc nhiên: “Có thật thế không hở anh”? Ông Đức cười: “Thật hay không, phải đưa cháu đi kiểm tra”.

Đò cập bến, họ trở lại mái nhà ven sông. Đã có tiếng gà gáy xa xa. Trời lành lạnh, sương rơi ướt đẫm những thảm cỏ. “Mẹ con cô vào giường mà ngủ, tôi ngủ võng ngoài này”. Ông Đức nói rồi mở ba lô lấy cái võng dù ra gốc cây trứng cá. Hồng bế con tần ngần không dám nằm giường, kéo manh chiếu nơi góc nhà, chị ôm con khoanh tròn như một con sâu. Sáng, mặt trời đã hắt những tia nắng hình dẻ quạt, nơi dãy núi mờ xa phía đông. Ông Đức đánh tiếng bước vào nhà. Thấy Hồng ôm con ngồi thui thủi trong xó tối, ông gắt: “Cô này lạ thật, tôi có ngại gì đâu”. Hồng như chờ dịp này khóc lên nức nở: “Cả đêm qua em không ngủ được. Anh ơi trăm sự nhờ anh. Có nơi nào tử tế cho con em làm con nuôi được không”? Nhìn đôi mắt thâm quầng và gương mặt như quắt lại của Hồng. Ông Đức rưng rưng, hết đi ra rồi lại đi vào, đắn đo: “Tôi có người bạn đồng ngũ không có con, đang muốn có đứa con nuôi. Nhưng trước khi giao cháu bé cho bác ấy, phải cho cháu đi kiểm tra sức khoẻ đã”. Hồng thoắt vui hẳn lên: “Vâng thế thì tốt quá. Con em chắc không bị lây đâu, vì em mất sữa ngay từ khi sinh cháu”. “Cô nghĩ kỹ đi, nếu quyết như thế thì ta cho cháu đi viện kiểm tra. Hôm nay tôi không có đò ngày, chỉ có một chuyến đò đêm, tôi đi cùng cô. Cố gắng đi sớm, chiều ta về”. Hồng gật đầu. Hai người ăn sáng bằng mấy bắp ngô luộc, rồi ra bến xe. Kết quả, bệnh viện kết luận: cháu bé hoàn toàn khoẻ mạnh. Ông Đức nói: “Thế thì tốt rồi, ta mang cháu đến nhà bác ấy thôi. Đến cổng cô phải ở ngoài vì chân cẳng thế này”. Hồng hiểu ý cười: “Vâng trăm sự nhờ anh”.

Chiều mọi việc diễn ra đúng như ý định, họ đưa đứa bé cho bạn đồng ngũ của ông Đức rồi ra về. Ngay tối hôm ấy, Hồng được các bệnh nhân phong đi chuyến đò đêm của ông Đức đưa về trại phong cùng họ.

*

... Mặt sông như vồng lên, những lớp sóng đua nhau xô vào bờ phủ bọt trắng xoá. Bầu trời cao xanh, có những đám mây mỏng mảnh xốp nhẹ vấn vít trôi về phương Bắc. Từ phía thượng nguồn đã có những cánh buồm xuôi về phía biển, thoắt ẩn thoắt hiện trên dải nước xa mờ. Ông Đức bồi hồi nhớ lại. Kể từ cái đêm đưa Hồng sang sông đến nay đã năm năm, như vậy thằng bé cũng đã tròn năm tuổi. Nó là sợi dây nối ông với Hồng và làm cho tình cảm giữa hai người lớn dần. Ngày mai Hồng về quê, chắc hẳn ông không bao giờ quên được cái dáng hao gầy, chiều chiều đứng dưới gốc si già đợi ông và ngóng tin con. Năm năm đã có bao lần Hồng sang sông ngày mùa giúp ông bổ từng nhát cuốc, nhặt từng cọng cỏ, cặm cụi như con ốc trên bến sông. Chị là sự bù đắp những phần hụt hẫng trong ông. Chị như cánh cửa mở ra, đón nắng và gió tràn vào phủ mờ vùng ký ức đau buồn của ông. Đã nhiều lần ông muốn nói một lời tỏ tình với Hồng, vì đã từ lâu rồi chị đã là người bạn tâm giao, nhưng tờ bệnh án năm nào cứ làm ông nghẹn lại.

Hồng, lòng dạ ngổn ngang. Chị rất vui vì mình đã khỏi. Chị nghĩ tới con đường phủ đầy vôi trắng mà nước mắt cứ trào ra. Năm năm chị như chiếc lá, viên sỏi trong cơn lũ quét, nhiều lúc tưởng phải gục ngã vì cô đơn tủi nhục. Nhưng hình ảnh ông Đức lúc nào cũng thường trực trong tâm trí chị. Ở ông chị tìm thấy tấm lòng một người anh bao dung, độ lượng. Ông là ân nhân của chị. Đã nhiều lần chị thầm ước một ngày nào đó được nghe ông nói lời yêu thương, bởi chị đã nghe ông kể tất cả những thăng trầm của cuộc đời ông.

Ngày mai Hồng về nơi đã sinh ra. Chuyến đi không nhẹ nhàng gì. Bởi về chị chỉ mang được bàn chân queo quắt và những bước đi tập thễnh, còn cái để lại thì quá lớn. Đó là đứa con mà chị đã mang nặng đẻ đau, ở hoàn cảnh bây giờ nó trở thành tài sản thiêng liêng, không gì so sánh được. Một tài sản nữa cũng không phải là nhỏ, đó là bến sông này và người đàn ông mà chị rất mực yêu thương kính phục.

Đò đã sang sông. Ông Đức bảo:

- Để túi đấy tôi mang cho, cô lên trước đi.

Hồng bước lên đứng chờ ông Đức lụi cụi kéo chiếc đò ghếch mũi lên bờ cát. Hai người dóng bước về nhà. Bữa cơm được dọn ra. Ông Đức xởi lởi:

- Ngày xưa ở bộ đội bữa ăn có tý đồ nhắm, gọi là ăn tăng cường. Hôm nay tôi tổ chức bữa ăn tăng cường để chia tay cô. Nhìn mâm cơm có khá nhiều món. Có cả món canh mà Hồng thích, mặt chị ửng đỏ. Thì ra ông Đức đã chuẩn bị rất chu đáo cho ngày này. Ăn xong ông cẩn thận buộc lại những gói quà, dặn dò:

- Tôi chuẩn bị ít đậu xanh, ngô nếp, cô cố gắng mang về làm quà. Ở đây chẳng có gì hơn.

Nghe ông Đức nói chị lấy vạt áo giấu lau những giọt nước mắt. Chị cảm thấy thời gian trôi đi nhanh quá. Chị sắp mất đi cái gì đó, mà chính chị cũng không cắt nghĩa được. Chị không dám nhìn ông sợ khóc oà lên. Chị lững thững ra bến sông chỗ con đò nằm ghếch mũi lên bờ cát. Những cánh buồm với đủ sắc mầu trôi trên sông sao mà xa xôi thế, nơi cây si già thấp thoáng có bóng người bệnh phong đang đứng đợi đò, nước mắt Hồng tràn ra.

Tối. Hồng ngủ trên giường. Ông Đức mắc võng ngủ chỗ cây trứng cá. Giấc ngủ như đến rất nhanh với hai người, vì chỉ còn cái âm thanh trong vắt của chiếc radiô đang đọc truyện đêm khuya, và tiếng gió thoang thoảng, xào xạc ngoài bãi ngô non. Nhưng không phải. Cả hai người đều không ngủ. Hồng cố kìm nỗi lòng mình lau đi những giọt nước mắt, để giữ giấc ngủ cho ông Đức. Ông Đức thì nằm lắng nghe mọi âm thanh của trời đêm, và cả tiếng trở mình của người bạn gái.

Khuya. Có tiếng chuông nhà thờ điểm hai giờ sáng, tiếng vọng của nó lan trên sông, như tiếng được truyền về từ cánh rừng nguyên sinh sâu thẳm bên kia sông. Hồng lặng lẽ mở cửa đi ra chỗ con đò. Chờ lâu không thấy Hồng về ông Đức dậy. Ông hỏi Hồng, khi thấy chị đang ngồi lặng phắc nhìn ra bến sông:

- Cô nhớ con phải không?

- Vâng, em muốn gặp nó một lần trước khi về.

Không đợi ông Đức trả lời, chị ôm lấy ông nức nở:

- Anh ơi em về không thể bỏ con lại đây.

Ông Đức thở dài:

- Thôi được rồi. Từ ngày có cháu làm con nuôi, bác ấy sinh được hai đứa, một trai một gái nữa. Mai tôi lên đặt vấn đề xin lại cháu xem có được không? Ừ mà cô cũng phải có đứa con sau này mà dựa.

Họ quay về. Mệt mỏi Hồng ngủ thiếp đi, lúc tỉnh dậy đã thấy chiếc võng của ông Đức đã gấp gọn để trên bàn. Ông đã đi từ sớm. Chị quét dọn nhà cửa, khâu lại những chiếc áo sứt chỉ cho ông, nấu cơm đợi ông về. Phải sang tận chiều ông Đức mới về. Hồng hét đến lạc cả giọng, nhào đến ôm lấy ông và thằng bé. Ông Đức đặt đứa bé trên lưng xuống:

- Cô làm quen với nó đi. Hai mẹ con ở với bác nốt chiều nay, sáng mai bác đưa ra bến xe để về.

Chiều. Hồng vui vẻ hẳn lên. Chưa bao giờ mái nhà ven sông lại đầm ấm thế. Thằng bé bụ bẫm, giống mẹ ở nước da, khuôn mặt. Nó quấn lấy mẹ ngay. Ông Đức cũng  lây niềm vui của hai mẹ con, trong tâm trí ông thầm ước có mái nhà nho nhỏ vui vầy như hôm nay.

Sáng, bảy giờ ba người đã có mặt ở bến xe. Ông Đức chuyển đồ lên xe. Xe còn đang chờ khách. Ông bế đứa bé lên hôn chùn chụt rồi dặn dò:

- Thôi hai mẹ con ở đây rồi về nhé. Khi nào rảnh rỗi thì đến thăm bác. Bây giờ bác phải về không lại muộn chuyến đò tiếp phẩm sáng nay.

Ông Đức ra về. Chiếc xe đạp thũng thẵng khuất dần nơi cuối con đường. Hồng nhìn theo cái dáng cao gầy của ông, lấy khăn vội lau những giọt nước mắt.

Xe đến thị xã, từ xa Hồng đã nhìn thấy cánh cổng nhà bạn ông Đức. Chị nghĩ không thể vô tình đi qua như kẻ vô ơn. Chị nói với lái xe xin được xuống xe. Người mở cổng cho chị là cậu con trai khoảng mười bảy, mười tám tuổi. Thấy chị, nó hỏi:

- Cô hỏi ai ạ? 

Nhìn thấy thằng bé nó reo lên:

- Ôi em, ra với anh nào.

Thằng bé lon ton chạy ra ôm lấy anh. Vì có đứa bé mà gia đình bạn ông Đức coi Hồng như người thân. Hồng xúc động:

- Em không biết nói gì để cảm ơn hai bác, mấy năm qua đã nuôi nấng con em. Em xin đội ơn, và xin phép bác cho mẹ con em được đi lại giỗ tết hàng năm.

Bạn ông Đức ngạc nhiên:

- Ô thế không phải con của chú Đức à? Chú ấy gửi con cho tôi hàng tháng vẫn mang tiền mang gạo lên cho cháu đấy chứ.

Hồng như người bước hụt. Thì ra ông Đức nuôi con chị. Bây giờ thì chị mới hiểu, tai sao ông lại mang con về cho chị một cách dễ dàng đến thế. Chị kể hết sự tình với vợ chồng bạn của ông Đức. Bạn ông Đức cười:

- Chú ấy láu cá thật. Tôi có hai đứa con, thằng con trai lớn vừa ra mở cổng cho cô, còn đứa con gái đang đi học. Tôi với chú Đức là bạn đồng ngũ. Chú ấy đã từng cõng tôi đi ba mươi cây số khi tôi bị thương, về trạm phẫu sư đoàn. Tôi coi chú ấy như người ruột thịt, cô đừng áy náy gì.

Mặt trời đã đứng bóng, mặc cho gia đình bạn ông Đức cố ý giữ lại, nhưng mẹ con Hồng vẫn khăng khăng ra về. Suốt cả đoạn đường đến bến xe, hình ảnh ông Đức luôn luôn hiện lên trong tâm trí của Hồng. Mái nhà nhỏ, bãi ngô non, và cái dáng cao gầy, lòng khòng đạp xe khuất cuối con đường làm chị không yên. Nơi bến sông ấy không thể để thành kỷ niệm, nếu để thành kỷ niệm, nó sẽ thành những muối tiếc day dứt suốt đời khôn nguôi. Đến bến xe Hồng quyết định mua vé quay trở lại.

Từ xa, chị đã nhìn thấy mái ngói thấp thoáng trong bãi ngô non, hình như có làn khói đang bay lên vướng vít, có mùi phù sa, mùi ngô non thoang thoảng. Nơi đây mới là tổ ấm của mẹ con Hồng./.

 
                                                                                                                                                                                                                   NGUYỄN THÁI SƠN