Trang chủ Văn nghệ dân gian Lý luận

NGÔI NHÀ MANG DẤU TÍCH 3 VUA: LÊ HIỂN TÔNG, THANH CÀN LONG VÀ NGUYỄN GIA LONG
14:55 | 08/08/2018

 

Tháng 12/2005, trong lần về Tiên Điền - Hà Tĩnh dự "Lễ kỷ niệm 240 năm ngày sinh Đại thi hào Nguyễn Du", biết tôi là người Bắc Ninh, các cụ địa phương đã ngâm cho tôi nghe đôi câu thơ - đối cổ:

"Trai Tiên Điền - tinh anh Hồng Lĩnh,

Gái Kinh Bắc - thanh sắc Tiêu Tương."

Và tặng tôi cuốn "Hoan Châu - Nghi Tiên Nguyễn gia thế phả".

1. Ánh sáng từ cuốn gia phả

"Cảo thơm lần giở" cuốn Thế phả của gia tộc Đại thi hào Nguyễn Du, tôi như được lãng du về miền cổ tích và những trang tình sử thơ mộng.

Cụ tổ 9 đời của Thi hào Nguyễn Du là Trạng nguyên Nguyễn Thiến (đỗ năm 1532) vốn quê ở xã Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay là Hà Nội), có người cháu nội là Nam Dương hầu Nguyễn Nhiệm, thời Lê Trung Hưng có dự mưu phục lại nhà Mạc, bị thua trận chạy về phương Nam, giấu hẳn tông tích, đến sinh cơ lập nghiệp tại Tiên Điền, trở thành người khai sáng ra dòng họ Nguyễn  - Tiên Điền. Đến đời thứ 6 thì dòng họ này đã nổi tiếng với Tiến sĩ khai khoa Nguyễn Nghiễm đỗ Hoàng giáp năm 1731 lúc mới 24 tuổi và Nguyễn Huệ (anh ruột Nguyễn Nghiễm - bác Nguyễn Du) đỗ Tiến sĩ năm 1733.

Cụ Nguyễn Nghiễm làm quan thời vua Lê - chúa Trịnh lên tới chức Tể tướng - Đại tư đồ, tước Xuân quận công, có con trai trưởng là Tiến sĩ Nguyễn Khản sau này nối nghiệp cha cũng tới chức Nhập thị Tham tụng (Tể tướng ở phủ chúa) và Tả tư giảng (dạy Thế tử học), Tế tửu Quốc tử giám. Quan Tể tướng, giỏi ca trù, hát xướng ra Thăng Long nhận chức đã say mê ngay giọng ca Quan họ của các liền chị vùng Kinh Bắc nên cưới thêm bà ba Trần Thị Tần, quê Hoa Thiều - Hương Mạc - Từ Sơn, sinh ra thi hào Nguyễn Du, bà tư Nguyễn Thị Xuyên quê Hoàng Mai - Yên Dũng - Kinh Bắc sinh ra Nguyễn Quýnh.

Nhưng thông tin đáng lưu ý nhất mà cuốn gia phả cung cấp, giục giã bước chân tôi đi điền dã để sưu khảo là về bà vợ thứ 5 và người con trai thứ 5 của cụ Tể tướng: "Nguyễn Trừ (1760 - 1809), anh trai thứ 5 của Nguyễn Du con bà trắc thất Nguyễn Thị Xuân, người xã Tiêu Sơn, huyện Yên Phong, Bắc Ninh và vẫn lưu ở quê mẹ. Năm 1779, ông đỗ Tứ trường, thời Chiêu Thống được bổ Tri phủ Tam Đới. Năm đầu Gia Long được bổ Tri huyện Siêu Loại, thăng Tri phủ Kinh Môn, đổi làm Tri phủ Nam Sách. Năm Gia Long thứ 8 - 1809, ông mắc bệnh và mất ở đấy, thọ 50 tuổi, đem về táng ở Tiêu Sơn (quê mẹ), có con là Nguyễn Trù làm Tri phủ Vĩnh Tường, con gái là Thị Uyên xinh đẹp lại giỏi nghề thuốc được tuyển vào làm Cung tần của vua Gia Long, rất được yêu quý". Như vậy cụ Nguyễn Trừ là Quốc trượng nhà Nguyễn - bố vợ vua Gia Long.

2. Tìm về Tiêu Sơn chiêm ngưỡng các di vật vang bóng một thời

   Núi Tiêu Sơn với ngôi chùa cổ Thiên Tâm tự là nơi thiền sư Vạn Hạnh (người tạo dựng nên cơ nghiệp nhà Lý) đã trụ trì và bà Phạm Thị Ngà thân mẫu vua Lý Thái Tổ cũng từng làm vãi thủ hộ ở chùa này. Những vết tích của dòng Tương Giang vẫn còn hàng dãy dài ao sen nước trong mát như văng vẳng tiếng hát chàng Trương Chi làm say đắm nàng Mỵ Nương. Vậy là xã Tiêu Sơn xưa thuộc Yên Phong, nay chính là xã Tương Giang, thuộc Từ Sơn. Nhưng hỏi thăm về cụ bà Nguyễn Thị Xuân lấy chồng Hà Tĩnh sinh ra Nguyễn Trừ (anh ruột Nguyễn Du) thì các cụ cao niên cũng không có ai thông tỏ cả. Chúng tôi bèn hỏi: "Có gia đình nào mà tổ tiên xưa là danh gia vọng tộc, cha con đều là quan phủ", thì các cụ mách chúng tôi tìm đến "Ngõ Quan Phủ" ở thôn Hưng Phúc cùng xã.

2.1. Đôi câu đối nối mạch cội nguồn

Trong một ngôi nhà cổ làm bằng gỗ xoan, cột cái to vừa một người ôm, cấu trúc và hoa văn họa tiết kiểu cuối Lê - đầu Nguyễn, chúng tôi được 2 anh em cụ Nguyễn Thinh 86 tuổi và cụ Nguyễn Thanh Bình 67 tuổi tiếp. Ngắm nhìn đôi câu đối cổ, nền gỗ sơn ta màu đen, chữ thiếp vàng đã phôi pha treo hai bên bàn thờ Tổ: "Lưỡng triều danh tể tướng - Nhất thế đại nho sư" (Tể tướng uy danh hai triều đại - Nhà nho lừng lẫy nhất một thời), chúng tôi vô cùng mừng rỡ vì đây chính là những từ ngữ hàm súc nhất mà vua Lê Hiển Tông đã ban cho dòng họ Nguyễn Tiên Điền, ghi nhận công lao cụ Hoàng giáp Nguyễn Nghiễm là Tể tướng kiêm Tế tửu Quốc Tử Giám và con trai trưởng là Tiến sĩ Nguyễn Khản cũng được giữ chức Nhập thị Tham tụng (tương đương Tể tướng), Tả tư giảng (dạy chúa Trịnh học lúc còn là Thế tử) và Tế tửu Quốc Tử Giám.

Quan sát kỹ thì thấy ở đôi câu đối có 2 dòng lạc khoản:

"Long phi Mậu Thìn thu

Huân Mộc bái thư".

Xét tên tự người viết Huân Mộc hàm nghĩa là "Tắm gội bằng nước cỏ thơm" thì có thể hợp với cụ Nguyễn Trừ (1760 - 1809) con trai thứ 5 của Nguyễn Nghiễm. Vậy năm làm đôi câu đối này có lẽ là Mậu Thìn 1808, lúc cụ Nguyễn Trừ đang làm Tri phủ Nam Sách.

2.2. Ngôi mộ Quan Tri phủ Nam Sách - bố vợ vua Gia Long

Chúng tôi cùng 2 cụ Thinh và Bình ra viếng mộ cụ Tổ khai lập nên chi họ Nguyễn - Tiên Điền tại Tiêu Sơn (Tương Giang) thì được đọc tấm bia đá cổ kích thước khoảng 30 x 50cm.

Mặt trước có khắc: "Cố Nam Sách phủ tri phủ Nguyễn Hầu, Nghệ An trấn, Đức Thọ phủ, Tiên Điền xã nhân dã".

Mặt sau khắc: "Minh Mệnh thập nhất niên chính nguyệt cốc nhật phụng khắc Vĩnh Tường phủ công sở".

Những thông tin này kết hợp với ghi chép trong Hoan Châu Nghi Tiên Nguyễn gia thế phả thật phù hợp và đủ để kết luận: "Đây là ngôi mộ cụ Nguyễn Trừ - cố tri phủ phủ Nam Sách quê ở xã Tiên Điền, phủ Đức Thọ, trấn Nghệ An do (con trai là Nguyễn Trù) Tri phủ Vĩnh Tường khắc năm Minh Mệnh thập nhất (ngày lành tháng giêng năm 1830)".

2.3. Bức hoành phi do quan Chánh sứ của vua Càn Long tặng

Trong lúc vui chuyện, gia tộc còn cho biết: Năm xưa các cụ còn một bức hoành phi nữa nhưng do đời sau gia cảnh khó khăn đã bán mất, may mà đôi câu đối mang nội dung quá hiển hách, không ai dám mua về, nên còn lưu giữ được treo ở nhà thờ Tổ đến nay.

Lần sau ra chơi thăm, may có cụ Chiểu người xóm bên sang chơi, biết nguyện vọng của tôi muốn được chiêm ngưỡng bức hoành phi cổ quý giá, cụ Chiểu đã vui lòng dẫn tôi sang nhà thờ họ Phạm ở cùng xã, nơi mua được và treo trang trọng trên ban thờ. Tôi bàng hoàng sững sờ, xúc động và mừng khôn xiết khi thấy 4 chữ thiếp vàng rực sáng trên cao: "Dịch Thế Thư Hương" (Đời đời vinh quang nhờ văn chương sách vở).

Chúng tôi xin phép kê bàn ghế cao lên để đứng đọc hai dòng lạc khoản thì thấy còn mờ mờ dòng chữ khắc là:

Bên phải: "Càn Long Tân Tỵ, Lạp tiền nhất nhật sách phong Chánh sứ Đức Bảo đề".

Bên trái: "Minh Mệnh Giáp Ngọ… vọng phụng… Vĩnh Tường tân tu".

Đối chiếu trong gia phả thấy chép:

"Tháng 12 năm ấy (Tân Tỵ) sứ nhà Thanh sang sắc phong, Nguyễn Nghiễm được sai đến Thiều Dao công quán thăm hỏi, ông có làm thơ tặng Chánh sứ là Đức Bảo và phó sứ là Cố Nhữ Tu. Hai người rất khen trọng và có họa đáp. Đức Bảo lại viết 4 chữ "Dịch Thế Thư Hương" tặng ông".

Không còn nghi ngờ gì nữa, thông tin trong Gia Phả và bức hoành phi cổ thật trùng khớp và có thể kết luận chính xác rằng: Tại ngôi nhà cổ ở Ngõ Quan Phủ, thôn Hưng Phúc, xã Tương Giang, huyện Từ Sơn (xưa là Tiêu Sơn - Yên Phong - Kinh Bắc) do cụ Nguyễn Trừ (con trai Nguyễn Nghiễm - anh trai thi hào Nguyễn Du) tạo dựng còn lưu giữ được một đôi câu đối cổ  "Lưỡng triều danh Tể tướng - Nhất thế đại nho sư" do vua Lê Hiển Tông ban tặng, sau này con là Nguyễn Trừ tạo tác năm Mậu Thìn 1808 và một bức hoành phi "Dịch Thế Thư hương" do Chánh sứ của vua Càn Long là Đức Bảo viết tặng cụ Tể tướng Nguyễn Nghiễm vào trước tháng Chạp năm Tân Tỵ (1761) một ngày.

Gia đình cụ Thinh và cụ Bình rất phấn khởi khi được chúng tôi và cán bộ Bảo tàng Nguyễn Du nhận chắp nối dòng họ Nguyễn Tiêu Sơn vào dòng đại tông Nguyễn Tiên Điền và gia tộc đã nhờ thợ giỏi làm phiên bản bức hoành phi và đôi câu đối cung tiến về nhà thờ họ Nguyễn Tiên Điền vào ngày 01 tháng 10 năm Đinh Hợi (10/11/2007).

3. Về bản Truyện Kiều chữ nôm ở gia đình hậu duệ cụ Nguyễn Trừ

Khi hỏi về sách vở của các Quan Phủ xưa, hậu duệ cụ Nguyễn Trừ cho biết: "Trước còn một cuốn gia phả, nhưng đến năm lụt 1971 thì thất lạc mất, may còn một cuốn Truyện Kiều nhưng cũng nát lắm rồi".

Chúng tôi mừng rỡ khôn xiết, run run "Cảo thơm lần giở trước đèn", thấy đây thực là một bản Truyện Kiều cổ, khắc ván in trên giấy bản, có kích thước 12 x 17cm. Lại còn quý hơn các bản Kiều cổ đời Tự Đức vì không viết kỵ húy tên vua Gia Long là "Chủng" (âm Nôm là "Giống") và cũng chẳng kỵ húy chữ "Lan" là tên mẹ Vua Gia Long. Việc kỵ húy vua Tự Đức cũng không được thực hiện nghiêm chỉnh.

   Do vậy có thể suy luận bản Truyện Kiều này khắc vào cuối đời Thiệu Trị - đầu đời Tự Đức (1847 - 1848), nghĩa là vào hàng cổ nhất trong số các bản Kiều sưu tập được hiện nay.

4. Mong ước đoàn tụ

   Tôi hỏi cụ Bình rằng cụ có thường qua lại nhà thờ họ Nguyễn ở Tiên Điền, Nghi Xuân hay không? Thật bất ngờ, cụ nói: "Trước đây chúng tôi hầu như không có liên lạc gì cả".

   Cụ Bình tâm sự: "Thời gian trôi qua, binh biến lưu lạc, các cụ chúng tôi về quê ngoại sống đã lâu. Trước nhà có giữ bản gia phả nhưng sau bị thất lạc mất. Bây giờ quay về, chẳng có bằng cứ gì, sợ bị mang tiếng "thấy người sang bắt quàng làm họ" nên hàng năm đều tưởng nhớ nhưng chẳng dám về".

   Chúng tôi trân trọng tặng gia tộc bản "Hoan Châu, Nghi Tiên, Nguyễn gia thế phả", cụ Bình xúc động đón nhận và đã tổ chức đánh vi tính lại toàn văn, sao nhiều bản giao cho mỗi gia đình giữ một bản để "nối mạch cội nguồn".

   Họ Nguyễn - Tiên Điền có dòng dõi từ Trạng nguyên Nguyễn Thiến đời nhà Mạc ở Canh Hoạch trấn Sơn Nam, trải nhiều đời ở Hồng Lĩnh - Lam Giang vẫn tiếp nối được truyền thống khoa bảng, văn võ toàn tài của tổ tiên mà dân Hoan Châu đã ca ngợi:

"Bao giờ ngàn Hống hết cây

Sông Lam hết nước, họ này hết quan".

   Đến đời cụ Hoàng giáp Tể tướng Nguyễn Nghiễm lại gắn bó với vùng Kinh Bắc để sinh thành ra cho dân tộc Đại thi hào Nguyễn Du mà người xứ Bắc vẫn nhắc nhở trong câu thành ngữ "Trai Tiên Điền - Hồng Lĩnh, gái Kinh Bắc - Tiêu Tương" và nay, qua duyên may run rủi chúng ta lại biết được tại Tiêu Sơn - Tương Giang - Từ Sơn một chi nhánh của dòng họ Nguyễn Tiên Điền do Nguyễn Trừ (anh trai Nguyễn Du - cùng là con của Tể tướng Nguyễn Nghiễm - lại là bố vợ vua Gia Long) từng là Tri phủ Nam Sách, sinh con trai là Nguyễn Thích (Tri phủ Nghĩa Hưng - Nam Định) và Nguyễn Trù (Tri phủ Vĩnh Tường - Vĩnh Phúc) và bà con gái là Nguyễn Thị Uyên sau này là cung tần của vua Gia Long đã nối tiếp xứng đáng truyền thống vẻ vang của gia tộc. Ngày xuân mời các bạn về Tiêu Tương - Tương Giang - Từ Sơn để thành kính chiêm ngưỡng những di vật văn hóa, văn tự như Hoan Châu Nghi Tiên Nguyễn gia thế phả của dòng họ Đại thi hào dân tộc - Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Du, bức hoành phi do Chánh sứ của vua Càn Long đề tặng, câu đối do vua Lê Hiển Tông ban cho cha con hai quan Tể tướng, bia mộ liên quan đến hai viên quan Tri phủ đã giúp cho hậu thế ta dễ chắp nối mạch với cội nguồn tổ tiên, dân tộc và thêm tự hào về một miền quê văn hiến xứ Kinh Bắc./.