Trang chủ Văn học Truyện ngắn

NGÂN HÀ SÔNG CHẢY VỀ ĐÂU
10:47 | 30/11/2018

Thấm thoắt thế mà đã đến ngày giỗ đầu của chị tôi. Nấm mộ chị bên đường cỏ đã mọc xanh, cánh đồng đã đi qua hai mùa lúa. Cuộc sống cứ tuần hoàn, cứ phát triển, còn cuộc đời của một con người bình thường như chị tôi thì cứ chìm dần, chìm dần vào dĩ vãng.

 Thắp một nén nhang lên mộ chị, cầu xin cho linh hồn chị được siêu thoát được thanh thản ở cõi vĩnh hằng.

Bí mật của cuộc đời chị từ hôm nay tôi được phép công bố. Tôi có quyền gọi hai cháu, con chị tôi là Tô Trung Nghĩa và Tô Chung Tình lại mà bảo chúng rằng: Hai đứa cùng một mẹ sinh ra. Nhưng không có cùng một người cha. Theo quy ước con mang họ cha nên từ nay mỗi cháu mang một dòng họ riêng. Tô Trung Nghĩa là hậu duệ của dòng họ Tô Đồng Phú. Còn Tô Chung Tình, chính xác là Đào Chung Tình, là hậu duệ của dòng họ Đào làng ta mà bấy lâu nay bị coi là tuyệt tự.

Khi chị còn sống, đã mấy lần tôi định công bố cho các cháu biết điều này nhưng chị không cho nói. Chị bảo: “Đã là bí mật thì cứ để cho nó là bí mật. Nói ra mà làm gì. Nếu cậu muốn thì bao giờ chị nằm xuống, mộ chị xanh cỏ rồi cậu hãy nói”.

- Thế ngộ nhỡ em đi trước chị thì sao?

- Thì cứ để cho điều bí mật ấy được giấu kín vào thời gian. Cũng như bao điều bí mật khác của tự nhiên, của xã hội loài người được vùi lấp trong quá khứ.

                                                                *   *   *

Ngày ấy, chị còn trẻ lắm. Khuôn mặt chị sáng như trăng rằm, với đôi mắt đen láy hay nhìn xa mơ mộng. Chị có mái tóc dài, đen mượt và xoăn tự nhiên. Người ta bảo: Những người có mái tóc xoăn tự nhiên như thế, sau này sẽ khổ. Nhưng tôi lại thấy chị đẹp lên rất nhiều nhờ mái tóc. Mái tóc dài óng ả được cặp lại phía sau bồng lên trùm kín lưng áo chị. Dáng chị cao, thanh tú, nhiều chàng trai làng đi ngang qua muốn nhìn vào khuôn mặt chị đều phải ngẩng mặt lên.

Sinh ra trong một gia đình gia giáo, nền nếp và khá giả, chị được hai bác tôi cho ăn học tử tế. Học xong lớp bảy, chi đi trung cấp sư phạm ba năm rồi đi dạy học, làm cô giáo trường làng. Tôi kém chị đến năm sáu tuổi nhưng chị rất quý rất tôn trọng tôi.

Chị coi tôi như người bạn thân. Những khi rảnh rỗi, chị em thường gặp nhau để nói chuyện về cuộc đời, về văn chương, cả những chuyện về đời tư của chị.

Một đêm hè sao sáng lắm. Ngày ấy ở nông thôn chưa có điện, không khí lại trong lành, tinh khiết cho nên sao sáng hơn bây giờ nhiều. Con người cũng hay nhìn trời nhìn mây hơn bây giờ.

Hai chị em tôi cùng ngẩng đầu nhìn ngắm bầu trời. Trời sáng sao đẹp quá! Ông Thần Nông đội mũ cánh chuồn ngồi bên bờ sông trầm mặc suy nghĩ. Kia là hai cái khau sòng, bố con nhà Ngưu Lang đang hì hục tát sông Ngân Hà. Ba ngôi sao sáng dọc bờ sông kia là ba cô bán rượu... Đang mải mê ngắm sao, bỗng nhiên chị tôi hỏi:

- Cậu học nhiều hơn chị. Cậu có biết sông Ngân Hà chảy về đâu không?

Tôi vẫn nghe kể cái vệt sáng vắt ngang bầu trời là sông Ngân Hà. Dòng sông vàng ôm ấp bao nhiêu huyền thoại. Nhưng tôi chưa bao giờ thấy ai nói sông chảy về đâu. Tôi đành trả lời qua quýt:

- Em cũng chưa thấy ai nói chuyện này. Em nghĩ: Sông thì phải chảy ra biển chứ còn chảy đi đâu.

Câu hỏi mà chị hỏi tôi đêm ấy cứ theo tôi đi mãi. Nó cứ lơ lửng trên đầu tôi giữa không gian mênh mông. Nó canh cánh trong lòng tôi, khiến tôi suy ngẫm rất nhiều về con người, về cuộc đời, về cuộc đời tôi, về cuộc đời chị.

Mẹ tôi không biết chữ, nhưng mẹ tôi có cả kho cổ tích. Mẹ tôi bảo: Cuộc đời mình đang sống còn nhiều khổ đau, còn nhiều tội ác. Đức Thích Ca, người đang trị vì hạ giới cứu khổ cứu nạn nhưng khổ nhiều, nạn lắm cứu sao cho xuể. Mai sau đến đời Đức Di Lặc trị vì thì lúc ấy mới hết khổ. Con người lúc ấy sẽ yêu thương nhau, giúp đỡ lẫn nhau. Đến trường tôi được học về Chủ nghĩa Mác- Lê Nin, chủ nghĩa cộng sản khoa học. Theo đó, xã hội loài người sẽ tiến tới Xã hội chủ nghĩa, Cộng sản chủ nghĩa. Đến lúc ấy sẽ không có chiến tranh, không có tội ác, không có nhà tù, không còn áp bức bóc lột. Của cải xã hội ê hề. Con người làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu. Nhưng không biết bao giờ đến thời Đức Di Lặc trị vì? Bao giờ xã hội loài người tiến lên Cộng sản chủ nghĩa? Ngày ấy chắc còn xa lắm, nhưng rồi sẽ tới. Còn Ngân Hà, sông chảy về đâu ? Câu hỏi của chị, ai trả lời Giùm?

Trai làng có nhiều anh để ý đến chị. Nhưng anh Hiếu, người hàng xóm hơn chị năm tuổi, cao lớn, đẹp trai, lại có chân trong Ban chấp hành Đoàn xã có lẽ là đối tượng nặng ký hơn cả. Được hai gia đình hẹn ước với nhau đã lâu. Cho nên anh Hiếu hay sang nhà chị chơi, vừa là để tranh thủ tình cảm của chị vừa là để lấy lòng hai bác tôi. Chị tôi cũng thấy mình với anh ấy thật đẹp đôi vừa lứa nên việc anh chị lấy nhau, tạo lập gia đình hạnh phúc, sinh con đẻ cái là chuyện bình thường chả có gì phải nói.

Điều đáng nói là: Trong làng còn có anh Triêm, người học phổ thông cùng lớp với chị cũng rất yêu thương chị. Anh thường lén gửi cho chị những lá thư thổ lộ tình yêu. Và, mỗi lần nhận thư anh chị lại viết thư trả lời, người làm bưu tá chuyển những bức thư cho anh chị lại chính là tôi. Chị thường tâm sự với tôi: Giá mà thân chị xẻ làm đôi được thì một nửa chị dâng tặng anh Hiếu, còn nửa kia chị để dành cho Triêm.

Thế rồi nhà anh Hiếu dạm hỏi chị, rồi đám cưới với pháo đỏ rượu hồng, chị về nhà anh Hiếu làm dâu. Cuộc sống của vợ chồng anh chị thật hạnh phúc. Chưa đầy năm kể từ ngày cưới, chị sinh một thằng con trai kháu khỉnh, giống cha như lột - thằng Tô Trung Nghĩa.

Đất nước còn bóng quân thù, anh lên đường đi đánh giặc. Chị ở nhà nuôi con, phụng dưỡng bố mẹ chồng như biết bao người phụ nữ khác. Từ ngày lấy anh, chị không thư từ với Triêm nữa. Mấy lần Triêm có gửi thư đến, nhưng chị không trả lời. Chị nhờ tôi nhắn anh Triêm, hãy quên chị đi, đừng gửi thư cho chị nữa. Chị giờ như ván đã đóng thuyền, anh nên quên chị mà đi tìm hạnh phúc riêng cho mình.

Từ ngày chị tôi đi lấy chồng, anh Triêm buồn lắm. Anh mừng cho chị tôi hạnh phúc, anh thấy anh Hiếu xứng đáng làm chồng chị tôi hơn anh. Nghĩ như thế nhưng mà ngọn lửa tình trong anh đối với chị tôi thì không sao dập tắt được.

Tình yêu! Ôi tình yêu! Thượng đế đã ban tặng cho con người trái cấm, để con người biết đến tình yêu. Tình yêu nóng bỏng như mặt trời, ầm ào như bão tố mà dịu dàng như ánh trăng xanh. Trên thế gian này, biết bao nhiêu con người vì tình yêu mà mạnh mẽ hơn lên, khôn ngoan hơn lên, vì tình yêu mà làm nên bao việc lớn lao.

Cũng có không ít người vì tình yêu không thành mà đau khổ thất vọng? Không ít người tìm đến cái chết vì tình yêu? Người ngoài cuộc thì bảo: sao mà dại dột thế, không yêu được người này thì yêu người khác, dại gì mà chết cho phí một đời. Nhưng đó là suy nghĩ của người tỉnh táo. Người đang yêu thấy không sống được với người mình yêu thì cuộc đời trở nên vô nghĩa, không muốn sống làm gì nữa.

Anh Triêm thì không đến mức tìm đến cái chết. Anh vẫn tôn thờ mối tình với chị tôi. Anh bảo: Suốt đời anh ở vậy. Anh sẽ không lấy ai. Dù chị tôi không còn yêu anh nữa thì suốt đời anh cũng chỉ ôm ấp, dấu yêu hình bóng một người con gái là chị tôi.

Anh là con một của một gia đình, hay nói đúng hơn là con một của một dòng họ. Cả họ Đào làng tôi chỉ còn mình anh là con trai. Cha mất sớm. Mẹ anh nuôi anh từ khi anh còn ẵm ngửa. Cho nên khi anh mười tám đôi mươi mẹ anh đã muốn cưới vợ cho anh. Thế nhưng dạm hỏi đám nào anh cũng từ chối. Khi chị tôi đi lấy chồng, mặc dù là con độc, được miễn nghĩa vụ quân sự, nhưng anh lại viết đơn xung phong đi bộ đội, đơn bị trả lại, anh lại nộp đơn khác. Những lá đơn viết bằng máu nhiều không đếm xuể đến với huyện đội. Huyện đội đành phải thuận theo ý anh.

Thế là cả hai người trai mà chị tôi yêu quý đều ra mặt trận. Anh Hiếu, chồng của chị tôi, người rất đỗi yêu thương chị tôi. Còn anh Triêm là người bạn, người yêu của chị tôi, đã có với chị tôi biết bao nhiêu kỷ niệm êm đềm. Trong lòng chị khó mà so sánh được tình cảm mà chị dành cho ai hơn. Nhiều lúc chị nghĩ: Đã yêu, đã lấy anh Hiếu rồi mà vẫn dành tình cảm cho anh Triêm thì thật là tội lỗi. Chị cố quên anh đi, nhưng càng cố quên thì tình cảm đối với anh lại càng bùng lên mãnh liệt.

Một ngày kia, chị nhận được thư của Triêm. Đã lâu lắm rồi, khéo đến ba năm chị mới lại nhận được thư của Triêm. Chị xúc động lắm! Đọc thơ anh mà hai hàng nước mắt ròng ròng. Chiến tranh bao giờ mới kết thúc? Trong bom đạn ác liệt, cái chết cái sống chỉ cách nhau gang tấc. Trong khi họ Đào nhà anh chỉ có một mình anh. Bao nhiêu ý nghĩ, tình cảm dồn nén, giằng xé tâm can chị. “Thương lắm Triêm của em ơi! Ở nơi xa ấy anh có thấu cho tình em không?".

Trong thổn thức nhớ thương Triêm, chị lại nhớ về anh Hiếu. Chị thấy mình có lỗi với anh, một tội lỗi không thể tha thứ được. Anh cũng đang trên đường hành quân ra chiến trường, nếu anh biết ở hậu phương, vợ mình đang nghĩ đến một người đàn ông khác thì anh đau khổ biết chừng nào?

Chị tâm sự với tôi: Anh Hiếu và anh Triêm, cả hai người ấy chị đều rất yêu quý. Với anh Hiếu, người chồng hết lòng thương yêu chiều chuộng chị, chị đã lấy anh, sinh cho anh một đứa con. Và bây giờ chị đang nuôi cha mẹ, nuôi con để anh yên tâm lên đường đi đánh Mỹ. Còn Triêm, người cũng yêu thương chị, người vì chị mà không chịu lấy ai, người cũng một phần vì chị mà xung phong vào quân ngũ, để cho mẹ già sống cô đơn, còm cõi, héo mòn vì thương nhớ. Chị thấy mình cũng có lỗi với anh, có lỗi với mẹ anh. Rồi không may anh không trở về thì chị có lỗi với cả dòng họ anh. Lỗi lớn mà không thể nào sửa được.

Nghĩ mãi, cuối cùng chị đã đi đến một quyết định táo bạo, quyết định mà tôi không thể ngờ tới:

- Chị sẽ xin phép bố mẹ chồng đi thăm anh Hiếu. Nhưng chị sẽ tìm đến đơn vị của anh Triêm, chị muốn sinh cho Triêm một đứa con. 

Tôi sửng sốt:

- Không được đâu. Nay mai anh Hiếu trở về, mọi người biết điều này thì chị còn mặt mũi nào nhìn anh ấy nữa.

Chị vẫn quả quyết:

- Tội trời chị cũng xin chịu. Chị không còn cách nào khác. Dẫu nay mai việc này vỡ lở. Mọi người lên án chị là kẻ ăn ở hai lòng, là người đàn bà lăng loàn. Dẫu khi anh Hiếu trở về, anh có trách mắng chị, đuổi chị ra khỏi nhà thì chị cũng cam lòng.

- Sao ngày trước, chị không bắt chước Thúy Kiều, tìm một Thúy Vân cho chàng Kim của chị?

- Chị đã giới thiệu cho anh một vài đám, cả em Thơm con dì Miến bên làng Yên nữa nhưng anh kiên quyết từ chối. Với lại cả hai anh đều yêu chiều chị và chị cũng yêu cả hai người. Nếu chị lấy anh Triêm làm chồng chị cũng sẽ xử sự như vậy đối với anh Hiếu.

Thế là mùa hè năm ấy, chị thầm tạ lỗi với cha mẹ chồng, tạ lỗi với anh Hiếu, chị ra đi với danh nghĩa đi thăm chồng đang trên đường hành quân vào Nam chiến đấu, Chị tìm đến đơn vị anh Triêm. Cả đi lẫn về đến mươi ngày.

Về nhà, sau chín tháng mười ngày, chị sinh thằng cu thứ hai. May mà nó trắng trẻo, tóc xoăn giống mẹ. Chị đặt cho nó cái tên Tô Chung Tình. Tên là Tình sau tên anh nó là Nghĩa. Còn têm đệm, không biết vô tình hay hữu ý, chị viết là Chung, khác hẳn với tên đệm của họ Tô là Trung.

Chiến tranh kết thúc, cả hai anh đều nằm lại chiến trường. Đau khổ nhân đôi. Chị gạt nước mắt, làm lụng, dạy học, tham gia công tác xã hội, nuôi mẹ già, nuôi con nhỏ. Cái bí mật về cuộc đời chị chỉ có chị và tôi biết.

Mặc đù điều bí mật của cuộc đời chị được giấu kín nhưng chị vẫn luôn dằn vặt mình.

 Một lần tôi về quê ăn giỗ anh Hiếu. Xong việc, mọi người ra về, các cháu Nghĩa, Tình cùng vợ con cũng dắt díu nhau đi. Bà cụ mẹ chồng đã ngáy đều đều trên cỗ phản kê giữa nhà. Chị tôi ngồi bệt ngoài hiên. Mái tóc sổ tung. Hai tay giơ lên ôm lấy đầu. Hôm nay chị uống nhiều rượu. Tôi đến gần hỏi chị:

- Chị say à? Chị say thì vào giường nằm. Ngủ đi một giấc như cụ, tỉnh dậy là hết.

- Chị không say đâu. Chị chỉ buồn thôi.

Rồi chị hạ giọng cốt một mình tôi nghe thấy:

- Chị thấy mình có lỗi. Nhìn thằng Tình, chị lại thương anh Hiếu. Rồi lại thương cả Triêm nữa. Chết mà không biết mặt con. Thương thằng Tình cứ đinh ninh mình là con bố Hiếu.

Tôi an ủi chị:

- Có ai biết việc của chị nữa đâu mà lo. Ngay cả mẹ chồng chị cũng tin thằng Tình là con anh Hiếu.

- Không ai biết nhưng có trời biết, có đất biết, có chị và cả cậu đều biết.

Nói xong, chị gục đầu xuống, cho mái tóc đang sổ tung trùm kín khuôn mặt. Chị chậm rãi, lè nhè từng tiếng một:

- Trong... cuộc... đời...có rất... nhiều người yêu ta. Ta... cũng yêu nhiều người. Nhưng... hôn nhân chỉ có... một.

Tôi cố tìm lý lẽ để bênh vực để an ủi chị:

- Thời mẫu hệ, đàn bà chả yêu nhiều người đàn ông là gì. Con đẻ ra chẳng biết là con ai nên chúng đều mang họ mẹ. Ngay gần đây thôi. Thấy bảo người Việt mình đi Tân Thế giới, đàn ông thì nhiều, đàn bà thì ít, nhưng đàn ông lại không muốn kết hôn với người nước ngoài, sợ mất giống thuần Việt, đành hai ba ông lấy chung một bà.

Thấy chị chăm chú lắng nghe tôi tấn công tiếp:

- Cho nên đạo đức xã hội, nhiều thứ chẳng qua cũng chỉ là quy ước. Nếu yêu và lấy nhiều người khác giới là xấu thì vua chúa là người xấu xa nhất.

Có điều, trong suốt thời gian làm cô giáo, chị công tác rất tốt, nhưng chị không bao giờ nhận một danh hiệu thi đua. Kể cả cấp trên cất nhắc, đề bạt chị đều từ chối. Chị bảo chị không xứng đáng. Bù lại cho chị cả hai cháu đều rất khỏe mạnh  và rất ngoan ngoãn. Đứa nào cũng học giỏi và rất thành đạt. Thằng Nghĩa học ngành thủy điện bên Nga, bây giờ đang công tác trên thủy điện Sông Đà. Thằng Tình học ngành lịch sử bây giờ đang làm công tác nghiên cứu tại Viện Khảo cổ học ngoài Hà Nội. Cả hai đều có nhà cửa vợ con đàng hoàng.

Các con đều thành đạt, nhưng do kiều kiện công tác nên không đứa nào chuyển về quê được. Thằng Nghĩa, rồi thằng Tình nhiều lần thuyết phúc bà và mẹ đến ở với chúng đẻ chúng có điều kiện chăm sóc, phụng dưỡng. Chị tôi thì đồng ý, nhưng bà mẹ chồng lại kiên quyết từ chối. Cụ bảo chị tôi:

- Bà cứ đi với các con. Tôi già yếu quá rồi nên không muốn đi đâu cả. Tôi ở nhà sống nhờ làng nước, chết cũng nhờ làng nước.

Chị tôi để bà cụ ở nhà một mình làm sao được khi bà cụ đã gần tám mươi?

Bây giờ trong căn nhà chỉ có hai người đàn bà. Một người đã ngoài tám mươi tuổi, bà mẹ Việt Nam anh hùng (xin nói thêm anh Thảo em trai anh Hiếu cũng đi bộ đội và cũng hi sinh trong chiến trường miền nam). Một người là chị tôi cũng ngoài sáu mươi. Hai người đàn bà, hai mái đầu bạc. Trong nhà chỉ có cụ và bà.

Có một lần tôi về quê thăm chị. Căn nhà cũ vẫn từ xưa để lại. Mười một cánh cửa bức bàn đóng kín, chỉ có một cánh hé mở. Tôi nhìn vào nhà, đang là bữa cơm trưa. Cả hai ngồi trên tấm phản kê giữa nhà. Bà cụ ngồi trong đang trầm ngâm bên chén rượu.Đôi mắt mờ đục nhìn xa xăm như đang suy nghĩ điều gì. Chị tôi ngồi ngoài, vừa ăn vừa gắp thức ăn vào bát cho cụ:

- Cụ uống cạn đi rồi ăn cơm !

- Bà cứ để mặc tôi. Sao hôm nay chủ nhật mà không thấy đứa nào về?

À, thì ra cụ đang nghĩ về những đứa cháu của cụ. Bố và chú của chúng không còn nữa. Nhưng có chúng nó, cụ cũng phần nào vợi đi nỗi buồn, nỗi cô đơn lúc tuổi già.

Nhấp một ngụm rượu, đặt chén xuống, cụ lại nói tiếp:

- Sau này tôi chết, bà bảo thằng Nghĩa về hưu thì về ngôi nhà này ở, để còn hương hỏa thờ cúng tổ tiên. Thương bà mến bên xóm đông quá. Mỗi một mụn con, chưa kịp lấy vợ đã đi bộ đội, rồi hi sinh. Bây giờ mồ mả lấy ai trông nom? Giỗ tết lấy ai hương khói? Cái nhà anh Triêm, con người ngoan ngoãn, hiền lành thế mà bất hiếu, hai mươi mấy tuổi đầu không chịu lấy vợ để đến nông nỗi này.

Nhắc đến anh Triêm chị tôi có vẻ xúc động lắm. mặt chị tôi đổi sắc. Câu nói của cụ có lẽ làm chị nghĩ về anh, nghĩ về chuyến đi thăm anh, nghĩ về thằng Tình, con chị, con anh.

Hai người đàn bà cứ sống với nhau như thế. Một là mẹ của hai liệt sĩ, bà mẹ Việt Nam anh hùng. Một là vợ của hai liệt sĩ. Họ nương tựa vào nhau lúc tuổi già. Hơn nhau đến gần hai mươi tuổi, nhưng cả hai mái đầu đều trắng xóa. Nước thời gian và nỗi đau mất mát đã gội sạch màu trẻ trung ở mỗi con người.

                                                                                                                    *            *   

                                                                                                                            *

Bây giờ thì cả cụ và chị tôi không còn nữa. Bà cụ mất ở tuổi tám mươi chín. Lo cho cụ mồ yên mả đẹp xong xuôi, ở cái tuổi thất thập chị tôi cũng ra đi. Tôi sẽ gọi hai cháu về để cho chúng biết về bí mật cuộc đời mẹ chúng. Rồi tin này cả làng đều biết. Chắc là người đồng tình thì ít, kẻ lên án thì nhiều. Thôi cứ mặc cho người đời phán xử.

Tôi ngồi bên mộ chị hàng tiếng đồng hồ. màn đêm đã buông xuống. Những vì sao đã nhấp nhánh trên bầu trời. Nếu mỗi người tốt, mỗi người hiền là một ngôi sao thì ngôi sao nào là chị tôi? Dòng sông Ngân Hà dần dần sáng tỏ. Tôi nhớ câu hỏi của chị tôi từ hồi còn trẻ: Ngân Hà, sông chảy về đâu? Có lẽ người đời chỉ kể đến đấy thôi. Còn lại để các đời sau kể tiếp. Như cuộc đời của chị tôi: Gần năm chục năm làm dâu, nhưng chỉ chưa đầy ba năm làm vợ. Sinh ra và nuôi dưỡng hai đứa con nên người, làm sống lại cả hai dòng họ… Chị đã lấy chồng, có con với chồng, lại có con với người đàn ông khác. Chị là người tốt hay chưa thật tốt? Nhưng có điều chắc chắn rằng: Chị đã tìm được cái đích của cuộc đời mình, lối chảy cho dòng sông của riêng mình./.

 
                                                                                                                                                                                               NGUYỄN VIẾT TẠI