Trang chủ ĐẾN VỚI BÀI THƠ HAY

LỜI MỴ CHÂU
15:50 | 03/01/2019

Lời Mỵ Châu

                          ĐỖ TRUNG LAI

Cha ơi, cha chọn rể

Cha đắp lũy xây thành

Mà sao khi nước mất

Cha xử con tội hình

 

Thần rùa biết cơ giời

Cớ sao còn tặng nỏ

Sao nỡ trỏ vào em

Giặc đằng sau vua đó

 

Chàng đã phụ đời ta

Từ khi chưa gặp mặt

Chuyện tình thành Cổ Loa

Đau trước ngày thứ nhất

 

Sống cũng chẳng được nào

Nước mất, tình cũng mất

Nhưng chết dưới gươm cha

Thì ngàn năm oan khuất

 

Nỗi oan này hóa ngọc

Dưới chín tầng bể sâu

Thần với người đâu cả

Bao giờ thì biết yêu?

(Rút trong tập thơ “Đêm sông Cầu” - 

Nhà xuất bản QĐND - 2003)

 

LỜI BÌNH CỦA 

NGUYỄN VĂN CHƯƠNG

 

Sự kiện lịch sử này xảy ra đã trên hai nghìn hai trăm năm. Có biết bao thi sĩ và sử gia nhưng không ai viết thế. Chỉ có nhà thơ Đỗ Trung Lai (sinh 1949), công bằng với nhân vật lịch sử, trung thành với sự thật lịch sử qua bài thơ “Lời Mỵ Châu”.

Có thể gọi bài thơ viết theo hình thức tân cổ điển được chăng? Cổ điển thì đương nhiên không mới nhưng sao người đọc vẫn cảm nhận được rất mới, rất sáng tạo và độc đáo. Đọc lần đầu đã bị hút hồn, bị ám ảnh. Phải đọc lại, đọc nữa. Đọc rồi thì choáng váng, đau đớn từ tim lên óc như trải qua một cơn địa chấn tâm hồn. Mỗi câu chữ, mỗi đoạn mạch là một lời chất vấn gay gắt, đanh thép, phản biện với những gì ta tưởng không còn phải nói lại, viết lại. Xưa nay chưa thấy ai viết được như thế.

Bài thơ ngũ ngôn, 5 khổ vừa tròn 100 chữ, dùng toàn từ thuần Việt. Lật lại một chuyện tình mà ai cũng tưởng mình biết rồi, khổ lắm, nói mãi. 

Mất mạng sống. Mất chồng. Mất cha. Mất nước. Dồn dập và bất ngờ, dữ dội và căm giận. Giải thiêng về tình phụ tử, nghĩa phu thê, về những đấng bậc Toàn Năng là thần thánh, giời phật. Nào, xin các người hãy trả lời tôi đi và làm cho ra nhẽ những mù mờ, sương khói của lịch sử.

Hắn không thể không biết chuyện gì sẽ xảy ra khi vua cha giao cho hắn một âm mưu đặc biệt như thế. Phải đóng kịch. Phải mai phục. Nhưng không lâu. Tình và nghĩa, sống và chết, cái cao cả và cái thấp hèn còn có nghĩa lí gì với một tên gián điệp như hắn.

Nhà thơ Đỗ Trung Lai rất sành thơ Đường nhưng thi pháp từ chương học như điển cố, phép đối, phép ước lệ, phép ẩn dụ, hoán dụ, tượng trưng và từ Hán Việt… tác giả gạt bỏ tất cả. Bài thơ chỉ còn là một thứ gỗ lũa, cái lõi đã hóa trầm. Tản Đà có viết thế đâu. Tố Hữu có viết thế đâu.

Bốn câu mở đầu cô đặc mà tự nhiên như không thể viết khác. Khổ hai cũng vậy. Thần Rùa không giật mình, không cứng lưỡi mới lạ! Hắn âm mưu tình phụ từ ở nhà. Vị hôn thê (nếu có thể viết như thế) đã phải đón nhận một tai họa mà nghìn năm trời không dung đất không tha.

Nỗi oan dẫu hóa ngọc, trầm tích đáy biển Diễn Châu (Nghệ An) hơn hai nghìn năm nhưng đọc  “Lời Mỵ Châu” của Đỗ Trung Lai, chúng ta, kẻ hậu sinh thêm một lần liên tưởng. Mùa xuân 1943, trong nhà tù phát xít Đức, kết thúc tác phẩm nổi tiếng: Viết Dưới Giá Treo Cổ, G. Phuxích - nhà văn Tiệp Khắc - đã cất lời kêu gọi: “Nhân loại hỡi! Hãy cảnh giác!”.

                                                                                                                                                                        NGUYỄN VĂN CHƯƠNG
 Bài viết liên quan