Trang chủ Kiến trúc Lý luận

LÀNG TRONG ĐÔ THỊ MỘT DẤU ẤN VĂN HÓA VÀ SINH THÁI
01:17 | 22/08/2016

Công nghiệp hóa và đô thị hóa đang diễn ra một cách nhanh chóng, đó là một xu thế tất yếu của nền kinh tế đang phát triển. Song ứng xử thế nào với các làng xóm, nơi quần cư lâu đời của người dân bản địa đang là một câu hỏi lớn không chỉ đối với các nhà kiến trúc, quy hoạch mà là đối với tất cả chúng ta?

Điều đáng mừng là quy hoạch thành phố Bắc Ninh mở rộng (gồm các huyện Tiên Du, Từ Sơn và một phần Quế Võ) được duyệt gần đây đã bám chắc một nguyên tắc trường tồn là tạo dựng một đô thị sinh thái; Đảm bảo phát triển hài hòa với thiên nhiên, khai thác hiệu quả các yếu tố thuận lợi phục vụ cao nhất lợi ích của con người. Đảm bảo đô thị phát triển bền vững, có sức hấp dẫn cao, đáng sống, với những bản sắc riêng giàu tính nhân văn: trong đó nhấn mạnh bảo tồn các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Song đó là nguyên tắc lớn, trên bình diện tổng thể của quy hoạch chung đô thị lõi. Nhiều nội dung cụ thể còn bỏ ngỏ, trong đó bảo tồn không gian văn hóa làng là một nội dung lớn, phức tạp; đòi hỏi cần sự nghiên cứu nghiêm túc như đề tài khoa học ngày.

Chúng ta thử tưởng tượng điều gì xảy ra khi các làng truyền thống như Làng Kim Đôi với 18 tiến sỹ, làng Diềm với thủy tổ quan họ, làng Hữu Chấp truyền thống của kéo co; làng Song Tháp quê hương của nhà triết học nổi tiếng Trần Đức Thảo; làng Tranh Đông Hồ v.v…lần lượt biến mất trên cõi đời này. Điều đó đương nhiên không xảy ra vì chúng ta đã kịp nhìn lại với tư duy khoa học hơn, tỉnh táo hơn để kịp thời sửa chữa những gì đang xảy ra. Với phát triển nóng các khu, cụm công nghiệp; với thị trường bất động sản sôi động đã lấn át làng quê. Những nhà máy, khu công nghiệp tiến sát đầu làng như các khu công nghiệp bao quanh thị trấn Hồ, khu đô thị bao vây kín làng như dự án bao kín làng Ngọc Trì, các khu hồ ao vốn cân bằng thoát nước và bạt ngàn hoa sen bị san lấp làm nhà máy bán như Dự án Đồng Chần, dự án Hồ Đền (Từ Sơn).v.v…

Đô thị được ưu ái hơn làng xóm, người dân cùng với văn hóa làng như dần dần bật ra khỏi cái nôi vốn có của mình; với danh nghĩa xây dựng nông thôn mới ta cũng lơ là với những nét đẹp, những giá trị văn hóa truyền thống, vô tình cổ vũ cho thôn làng phát triển nhà ống bám theo đường làng, ngõ xóm, mà thực chất làm cho làng xã cho nông dân mờ nhạt đi những giá trị đích thực của mình. Nhiều nơi vắng bóng lũy tre xanh, nhà cửa chen lấn, san sát gạch ngói, bê tông…Không gian công cộng như sân đình, xới vật, cây đa… chỉ còn trên thơ ca. Trên cả hai bình diện làng không ra làng và phố thì nhan nhở phố. Phải chăng đây là một cảnh báo không nhỏ, đòi hỏi phải nghiên cứu lại, đổi mới lại từ tư duy đến chính sách, cách làm, nếu không muốn nói là muộn.

Không gian làng là nơi quần cư và cũng là nơi sinh tồn văn hóa Việt Nam, ở đó lưu tồn biết bao những vết tích lịch sử, văn hóa từ thuở nó hình thành sơ khai cho đến ngày nay. Không gian văn hóa ấy đã dung nạp, nuôi dưỡng, bảo tồn tình cảm, tâm hồn, nhân cách con người Việt Nam. Không gian văn hóa ấy là cái nôi duy trì bản sắc, bản chất văn hóa dân tộc ta. Phải chăng đây cũng là một di sản mà không thể đánh đổi mặc dù ở đó giá trị đất đai rất cao. Để mất giá trị văn hóa cội nguồn là để ra đi một nền văn hóa truyền thống, văn hóa cộng sinh. Ở đây hàng ngày, hàng tuần tiết diễn ra các sinh hoạt cộng đồng, các quy tắc ứng xử, các tiết lễ tâm linh, hội hè, các cấu trúc tập quán, các tiết chế quản trị làng, quản lý nhà nước, hành chính ở cơ sở, các tương tác con người với thiên nhiên, kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh…, sự tương thân, tương ái, đồng lòng, đồng chí đấu tranh với dịch họa thiên tai…người trong làng luôn ý thức được rằng “ta là người làng, đây là làng ta”, “người trong họ trong làng”.

Dấu ấn đó bền bỉ theo họ cho đến cuối đời. Thật không công bằng mỗi khi xã tắc quốc gia có khó khăn, nguy khốn người ta mới quay lại nhấn mạnh “tam nông”. Còn lại “tam nông” chỉ còn ước vọng của người dân mà thôi. Đây cũng là tư duy thường gặp của những người làm đô thị. Chắc ít ai đã cân nhắc, thận trọng để giải quyết hài hòa, tối ưu sự xung đột vốn có giữa lợi ích phát triển đô thị với yêu cầu gìn giữ, phát huy những giá trị văn hóa cội nguồn của làng quê. Tối ưu hóa những xung đột đó chỉ có thể được giải quyết trên một đồ án quy hoạch có chất lượng. Chính vì vậy, ngoài yếu tố hàng đầu là đổi mới tư duy, đổi mới lại nhận thức thì khâu quy hoạch các làng là yếu tố rường cột thứ 2; trước hết là các làng quan trọng, làng có yếu tố di sản, làng có tác động cận kề đô thị hóa. Mỗi làng có vị trí, không gian và các đặc tính riêng rẽ…nên chỉ có thể trả lời rành rẽ bằng quy hoạch chi tiết 1/500 hay 1/1000 dài hạn và có tầm nhìn xa hơn. Chẳng hạn như làng Diềm có nên đưa nhà hát quan họ kề sát bên không? Có nên dồn cả trụ sở của Đoàn quan họ vào cạnh làng không? (nay là nhà hát quan họ). Mặt khác lại tiếp tục đầu tư “nhà chứa” quan họ. Vậy ai hát trong rạp, ai ra mạn thuyền? Nếu không thận trọng, cái gì cũng dồn vào đấy, chúng ta phá vỡ, hoặc làm lu mờ yếu tố thủy tổ. Cần phát huy yếu tố thủy tổ hay biến nó thành một trung tâm quan họ mới. Đây là điều cần cân nhắc lại, bởi lẽ một trung tâm diễn xướng mới mà yếu tố thu hút khán giả hạn hẹp, hiệu quả sẽ ra sao, phương sách hành chính hóa, nhà nước hóa dân ca liệu có đi vào cuộc sống. Cũng tương tự các làng quan trọng trong đô thị nói chung và đô thị lõi nói riêng phải sớm có quy hoạch của chính làng. Như vậy mới có thể khắc phục được xu thế; khu công nghiệp, khu đô thị bao vây làng xóm. Và chỉ có quy hoạch mới có thể thái độ rõ ràng về xây dựng, cải tạo làng xóm, trong đó phải thỏa mãn những đòi hỏi tất yếu của người dân. Những người ở làng không những có việc làm, có cuộc sống no đủ, thậm chí giàu sang. Có đầy đủ các dịch vụ thuận tiện, có lối sống tiện nghi, hiện đại không kém gì đô thị, người ở làng kiêu hãnh, ngẩng cao đầu về chất lượng sống của mình. Người xa làng muốn về sống trong làng. Không phải ồ ạt ly hương và đô thị lớn cũng giảm áp lực, phải chăng là hiệu quả kép. Nói cách khác phải hiện đại hóa làng thay vì thả nổi làng, bao vây làng để làng chậm phát triển, cải hoán tùy tiện, nham nhở, để rồi những giá trị cốt lõi bị mai một; để lại cái giá đắt đỏ phải trả cho thế hệ sau.

Để làng tồn tại với tiêu chuẩn sống tiệm cận đô thị rõ ràng là một sự nghiệp lớn, nhiều việc phải làm, chẳng hạn để an cư biện pháp về nhà ở như thế nào. Khu xóm nào cần bảo tồn, khu nào phát triển mới. Nhà ở truyền thống các khu ấy cải tạo, hiện đại hóa ra sao? Bố cục, quản lý không gian công cộng của cộng đồng; công trình công cộng truyền thống, công trình mới; ứng xử cụ thể với công trình tâm linh, tôn giáo; đặc biệt với những công trình lịch sử, có giá trị, như Đình Chùa làng Đồng Kỵ; Đình và nhà cụ Đám Thi ở Đình Bảng… Kế đến là biện pháp ứng xử với các yếu tố sản xuất, các nghề thủ công, chăn nuôi nhỏ lẻ; trong điều kiện nào được gắn liền với nhà ở hay trong làng, điều kiện môi trường để các sản xuất đó tồn tại mà cộng đồng thuận và phù hợp luật pháp. Riêng đối với Làng nghề sản xuất đầu tư theo hướng công nghiệp là đúng đắn, không thể giữ sản xuất thủ công nhỏ lẻ ở làng với sản xuất công nghiệp hiện đại cùng gây ô nhiễm cho làng. Sản xuất công nghiệp này phải thoát ra khỏi làng ra khu công nghiệp tập trung, các doanh nhân ở làng để đầu tư công nghiệp. Và chính vì vậy mới có Làng tồn tại bền vững, không lẽ chung sống dài dài như giấy Phong Khê, Đúc nhôm Văn Môn. Và đương nhiên quy hoạch Làng phải đề xuất đầy đủ hạ tầng kỹ thuật như cấp nước, cấp điện, thoát nước, cung cấp thông tin, xử lý nước thải, chất thải rắn…

    Những nội dung đặt ra cho Đồ án quy hoạch, cũng đã được đề cập trong chương trình xây dựng nông thôn mới, song chưa thấy một đồ án nào, một công trình nghiên cứu nào đề cập và xử lý nhuần nhuyễn vấn đề này. Tại sao cả nước bó cứng trong 19 tiêu chí, trong khi đó thực tế các vùng miền trong cả nước khác nhau, đa dạng, phong phú biết chừng nào. Vùng ngoại ô, vùng đang đô thị hóa ở Bắc Ninh ra sao nếu làm đúng 19 tiêu chí; các tiêu chí xoay quanh hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật, nội dung phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghệ trồng trọt, chăn nuôi cao thấp; tổ chức sản xuất, hợp tác, hợp doanh, liên kết – chế biến, tiêu thụ không được chú ý thỏa đáng. Sự thực xây dựng nông thôn hay hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một chặng đường dài, một quá trình từ thấp đến cao, chứ không phải cái đích cần tới chỉ có thế, vì vậy không cần nhấn mạnh mới hay cũ; Xây dựng nông thôn là đủ và tính thời cuộc ở giai đoạn nào mà thôi. Hiện nay (2016-2020) một số “phường” của Thành phố Bắc Ninh đang xây dựng nông thôn mới. Bảo tồn Làng trong Đô thị, tồn tại như một dấu ấn văn hóa vĩnh viễn trong Đô thị, không đồng nhất với xây dựng nông thôn mới trong đô thị mới với hàm xúc trực diện như hiện nay. Làng ở đây là làng được hiện đại hóa, một kiểu làng cải tạo mới phù hợp với chất lượng sống mới, song vẫn bảo tồn, giữ gìn được cốt cách, tâm hồn của văn hóa truyền thống mà đời đời cha ông ta đã sáng tạo. Làng gần như bảo tàng sống, chất lọc, lưu giữ những giá trị văn hóa, đồng thời cũng là không gian sinh thái của đô thị. Làng cùng với không gian xanh khác sẽ là lá phổi của thành phố; sẽ đưa lại không gian thoáng đãng, không khí trong lành… như chất lượng một đô thị sinh thái thực sự mà chúng ta vẫn mơ ước. Một số Làng thuận lợi có thể nâng Làng hoặc bộ phận Làng thành di sản, từ đó tạo ra sản phẩm du lịch sinh thái, du lịch khám phá là hoàn toàn khả thi trong nay mai, nếu ta làm đúng. Tiếp đến yếu tố thứ ba, không thể thiếu đó là quy chế quản lý quy hoạch và chính sách khuyến khích, huy động nguồn lực của cộng đồng; sau khi có những quy định chung về quy lý và chính sách tổng quan toàn cục, quy chế quản lý cần cụ thể, cần hình thành song song cùng quy hoạch chi tiết với từng Làng cụ thể và được duyệt ứng với quy hoạch đó. Đó là điều kiện tiên quyết, là cơ sở pháp lý để các dự án đô thị khác buộc phải tôn trọng, không thể ép Làng hy sinh như từng đã xảy ra. Đồng thời cần có chính sách khuyến khích cộng đồng giữ gìn những giá trị văn hóa ngay trong căn hộ của mình. Kinh nghiệm của đô thị Cổ Hội an cho ta nhiều bài học về mặt này.

            Nhận ra những giá trị của văn hóa Làng, xã, xác lập không gian, và biện pháp bảo tồn nó, đó là thành công không nhỏ của những người làm đô thị. Đảm bảo văn hóa Làng tồn tại vĩnh viễn trong đô thị, cùng phát triển hài hòa với các khu đô thị hiện đại, sầm uất khác. Để Đô thị của chúng ta thực sự là một Đô thị văn hóa, sinh thái và giàu sắc thái bản địa. Một đô thị phát triển bền vững và có sự hấp dẫn cao./.

 Phạm Đình Nghĩa