Trang chủ Văn hiến làng quê Bắc Ninh - Kinh Bắc

LÀNG PHÙ CẦM - NHỮNG DẤU SON TRONG LỊCH SỬ
08:53 | 02/07/2018

 MAI KHÁNG

 

 

Làng Phù Cầm có tên nôm là Làng Gầm thuộc xã Dũng Liệt, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, nằm rìa bờ đê hữu sông Cầu từ cây số 42 đến 41 trên đường tỉnh lộ Bắc Ninh đi Hà Châu tỉnh Thái Nguyên. Đây là một làng cổ thuần nông số dân chỉ khoảng hơn 300 nóc nhà. Nhưng đó lại là một vùng đất địa linh nhân kiệt. Qua sử sách và những ký ức còn sống trong tâm thức nhân dân thì những sự kiện lịch sử, những vì sao tinh tú là những người con quê hương còn rõ ràng và gặp bất cứ người dân nào ở làng Gầm cũng có thể kể lại được.

Trước hết đây là làng có lịch sử sớm vào bậc nhất ở Yên Phong. Cạnh làng có một gò đất cao rất rộng có tên là Nội Gầm, bên cạnh là khúc sông cầu trong xanh uốn lượn lơ thơ nước chảy quanh năm. Phía xa là cánh đồng Me chiêm trũng xưa kia là một vùng đầm lầy. Những điều kiện thiên nhiên ấy đã ưu đãi để người Việt cổ có mặt ở đây từ rất sớm.

Vào năm 1973, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội sơ tán về đây, trong một lần đi đường Giáo sư Trần Quốc Vượng tình cờ vấp vào một hòn đá. Ông nhặt lên thì đó chính là một chiếc rìu đá của người Việt cổ ở thời kỳ đồ đá mới đầu đồ đồng. Thế là một cuộc thám sát khảo cổ học diễn ra. Hố thám sát mỗi chiều 10 mét và qua nhiều tầng văn hóa. Kết quả đã ghi vào bản đồ khảo cổ quốc gia là khu di chỉ Nội Gầm. Gồm 46 chiếc bôn đá, chày nghiền đá, vòng trang sức đá ngọc, quả cân đá được chế tác tại chỗ vì tìm thấy hàng chục bàn mài đá. Đồ đồng gồm Đục móng, vòng trang sức, lưỡi câu đồng. Đồ gốm hàng vạn mảnh gốm là các đồ đựng như bình, vò, nồi, bát, chậu được chế tạo bằng bàn xoay trang trí hoa văn đủ loại.

Chứng tỏ đó là một làng cổ với sự phát triển phong phú về đời sống kinh tế xã hội, chế tạo công cụ, làm ruộng, làm nghề thủ công như đồ gốm, dệt vải kéo sợi, săn bắt, đánh cá ... có niên đại cách đây từ 2.500 - 2.800 năm.

Với vị trí và thiên nhiên ưu đãi như thế nên làng mạc ngày càng trù phú dân cư ngày càng đông đúc. Cùng với kinh tế phát triển thì văn hóa cũng vô cùng rực rỡ. Đặc biệt đạo phật xưa kia là quốc giáo đã phát triển mạnh và có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống tinh thần của nhân dân. Đồng thời đạo Phật cũng là cái nôi đào tạo nên những nhân tài có những trí tuệ siêu việt đóng góp cho đất nước.

Vào Thời Lý nhân dân Làng Gầm đã xây dựng ngôi chùa lớn và bề thế vào bậc nhất trong vùng đó là Chùa Quốc Thanh. Đây là ngôi chùa to lớn sánh vai với chùa Quảng Báo ở Chân Lạc, Chùa Sùng Khánh ở Đông Xuyên, Chùa Khai Nghiêm ở Vọng Nguyệt. Lúc ấy nhân dịp nhà chùa và nhân dân hưng công đúc xong quả chuông rất lớn ở chùa Quốc Thanh nhà thơ nổi tiếng lúc đó là Hoàng Viên Học (1072-1136) quê ở Như Nguyệt - Tam Giang cũng là một nhà sư uyên bác của thiền phái Nam Phương đã đề tặng một bài thơ mừng trong ngày lễ khánh hạ đại hồng chung như sau.

"Sáu căn ám ảnh khổ đêm dài

Tăm tối sinh ra biếng nhác hoài

Hôm sớm nghe chuông hồn tỉnh thức

Thần thông được gặp hết thần lười"

(Trích từ Yên Phong xưa - Khổng Đức Thiêm)

Bài thơ nói tới tiếng chuông chùa sẽ đánh thức các cơ phận của con người là sáu căn gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Đạo phật hướng nhận thức của con người từ chân thực đến ý thức để giác ngộ chân lý thiền là cuộc đời là sắc sắc không không con người cần phải vượt lên trên thế giới hữu hình tới cõi niết bàn và vượt ra khỏi vòng sinh tử.

Rất tiếc qua biến loạn của chiến tranh ngôi chùa đã bị tiêu thổ và chiếc chuông quý đó cũng bị thất truyền chỉ còn lại bài thơ thì sống mãi với thời gian.

Cũng vào thời Lý làng Phù Cầm đã xuất hiện hai nhà thơ nổi tiếng đã được ban soạn thảo cuốn Địa chí Hà Bắc do Bí thư Tỉnh ủy Lê Quang Tuấn chủ biên đã xếp hạng hai ông là 2 trong số 101 gương mặt quê hương Hà Bắc là những người con ưu tú có tác phẩm lưu truyền lại tính từ thời Lý đến trước cách mạng tháng 8/1945. Trong danh sách này mở đầu là các danh nhân như Trạng nguyên Lê Văn Thịnh, Lý Thường Kiệt, Nguyên Phi Ỷ Lan, Lý Càn Đức... và những người cuối danh sách là Nguyễn Văn Cừ, Ngô Tất Tố, Nguyễn Huy Tưởng ...

Đứng ở số thứ tự thứ 18 trong danh sách gương mặt quê hương Hà Bắc là Nguyễn Nguyên Học (?-1174), pháp hiệu là Nguyên Học quê ở làng Phù Cầm, xã Dũng Liệt, huyện Yên Phong. Ông là nhà thơ đồng thời cũng là một đại đức thiền sư thuộc thế hệ thứ mười dòng tu Quan Bích trụ trì chùa Quảng Báo. Được vua Lý Anh Tông rất trọng dụng, được tự do ra vào cung cấm. Tác phẩm để lại còn lưu giữ được là hai bài kệ. Trong đó có bài nội dung đã dịch như sau:

"Đạo không hình bóng

Trước mắt đâu xa

Tìm tại lòng ta

Chớ tìm chỗ khác

Dẫu mà tìm được

Chẳng phải là chân

Dầu có được chân

Chân là gì vậy".

(Trích từ Địa Chí Hà Bắc)

Và người ở số thứ tự 19 danh sách trên là Tô Minh Trí (?- 1196) là người làng Phù Cầm, xã Dũng Liệt, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Ông vốn thông minh đọc nhiều sách vở. Đến năm 20 tuổi, gặp Âu Đạo Huệ thượng sỹ nên xuất gia.

Sau một thời gian tu tập với thiền sư Đạo Huệ, ông hiểu được ý chỉ của đạo, của các bộ kinh viên giác, Nhân Vương, Pháp Hoa và sách Truyền Đăng. Do Minh Trí và được trụ trì ở chùa Phúc Thành ở hương Điền Lãnh (nay là xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Tăng chúng theo học rất đông.

Một số tác phẩm để lại như sau: Bài kệ

"Tùng phong thủy nguyệt minh

Vô ảnh diệc vô hình

Sắc thân giá cá thị

Không không tầm hưởng thanh"

Dịch là:

"Thông reo trăng nước sáng

Không ảnh cũng không hình

Sắc thân cũng thế vậy

Hư không tìm tiếng vang"

(Thiền uyển tập anh của Ngô Đức Thọ - Nguyễn Thúy Na).

Một bài kệ khác, (Đã dịch):

"Giáo ngoại khả biệt tuyền

Phật, Tổ đạo uyên nguyên

Nếu mong thấy rõ đích

Hãy tìm mây khói lúc nắng xuân lên"

(Thiền uyển tập anh)

Nhìn chung hai nhà thơ là người con quê hương Làng Gầm đều là các vị thiền sư Học vấn uyên thâm công đức to lớn. Đó là các vị đại trí thức đại diện cho hệ tư tưởng lúc đó, vì thế tác phẩm và hình dạng của họ đã in dấu đậm nét trong sử sách quốc gia. Rất tiếc những trước tác đó bị thất truyền nhiều song vẫn là những gương mặt quê hương tiêu biểu nhiều thời đại.

Đến thời Nguyễn, nơi đây lại ghi dấu chiến công hiển hách chống loạn giặc để lại và lưu giữ mãi một bài thơ bất hủ do Tôn Thất Thuyết đề tặng.

Đó là vào năm Tự Đức thứ 26 có giặc Trận nổi loạn ở Bắc Ninh, Đại Trận tên thật là Giáp Văn Trận quê ở Ngọc Lý, Tân Yên, Bắc Giang khởi loạn từ năm 1867, xây dựng căn cứ ở Làng Ngò xã Song Vân, Tân Yên đã từng đánh tan cuộc tấn công của hơn 400 quân triều đình do Phủ Hoan chỉ huy. Vua sai Tôn Thất Thuyết - Thượng thư bộ binh cầm quân của bốn trấn là Bắc Ninh, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng đánh giặc.

Đại quân tập kết ở Bến Gầm - Yên Phong với hàng ngàn tinh binh, ngựa voi khí giới hùng dũng. Tôn Thất Thuyết sửa lễ vào đình Phù Cầm cầu thần linh là đức thánh Trương Hống, Trương Hát phù trợ. Đêm hôm ấy thần hiện lên báo mộng rằng: "Giặc hiện giờ đang ở làng ĐôngLỗ huyện Hiệp Hòa, quân tuy đông nhưng địa thế trống trải, lương thực binh khí ít, nên đánh ngay. Chúng tôi xin hết sức âm phù thu tróc hồn vía chúng nó khác bắt được cả".

Tôn tổng đốc tỉnh dậy cả mừng lập tức truyền cho tả hữu canh tư khởi quân tiến sang Đông Lỗ. Khi tới nơi thấy quân giặc đông như kiến kéo ra nghênh đánh nhưng khi phát hiệu lệnh vào trận thì chúng đều loạng choạng như người say rượu có đứa chân tay co rúm, có đứa ngẩn ra, thế là bắt được hết.

Dẹp xong giặc rồi Tôn Thất Thuyết sai làm một chiếc biển vàng to ở đình Phù Cầm đề thơ rằng:

"Xuân giang nhất dạ trúc xiên hoa

Chiến lũy thần từ nhân bất sà

Tháp khởi canh thạnh tư mạc trợ

Đinh y lộ trắc trọng kinh qua

Lâu đài vạn cổ xuyên do họa

Hồng nhạn tam canh trạch phá ca

Dân thiết tư am hoàn di sẻ

Quan san mặc yếm khứ lai xa".

Dịch thơ:

"Sông xuân nghìn ngọn đuốc hoa

Nhìn xem chiến lũy chẳng xa thần từ

Canh khuya tỉnh giấc âm phù

Trên đường đánh giặc phất cờ lập công

Lâu đài muôn thuở bến sông

Nước dầm như hát nhạn lồng ba canh

Nhân dân nay được an ninh

Xe quân chẳng quản dặm hành đường xa"

(Trích từ Sinh vi tướng tử vi thần Của Trần Quốc Thịnh)

Có thể nói tấm bảng đề thơ của Tôn tổng đốc thượng thư là một báu vật, là khúc khải hoàn ca hùng tráng là tiếng reo vui của nhân dân quê hương thoát khỏi sự quấy nhiễu của loạn giặc và sau trận này làng Phù Cầm có thêm một tên mới là do rất nhiều voi chiến của triều đình tập kết ở đây. Chúng ngày đêm gầm rú vang động cả một vùng vì mến mộ chính nghĩa nhân dân quen gọi chỗ ấy là Bến Gầm và sau đó là Làng Gầm.

Nhìn rộng ra chung quanh các làng ở tổng Dũng Liệt cũng thấy thật ngỡ ngàng: Làng Phù Yên cách đó không xa, vào thời Lê, khoa thi năm 1505, ông Đỗ Doãn Chấp đã đỗ Đệ Tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân Làng Chân Hộ, tổng Dũng Liệt nay là Chân Lạc có tới 5 vị đỗ Tiến sỹ thời Lê Mạc trong đó có hai cha con đều đỗ Tiến sỹ là ông Ngô Phúc Tinh đỗ khoa thi năm 1535 và con là Ngô Khánh Nùng đỗ khoa thi năm 1556. Cạnh đó nơi đây có ngôi chùa Quảng Báo là chùa lớn nổi tiếng với hai vị thiền sư đồng thời là hai nhà thơ nổi tiếng trụ trì là Âu Đạo Huệ và Nguyễn Nguyên Học. Nhân dân ở đây còn lưu truyền câu tục ngữ “Ruộng kẻ Chiền, tiền làng Chóa”. Từ sự ghi dấu xưa ở đây có xưởng đúc tiền rất lớn của quốc gia.

Chỉ điểm qua vài nét đã thấy Làng Phù Cầm rộng ra là tổng Dũng Liệt là một trung tâm văn minh với nền kinh tế cực thịnh đời sống văn hóa giáo dục rực rỡ. Cũng là địa danh đã góp phần làm nên nhiều chiến công trong đó có chiến thắng quân Tống trên chiến tuyến Như Nguyệt xứng đáng là nơi phên dậu bảo vệ vững chắc kinh đô Thăng Long và an ninh đất nước.