Trang chủ TẢN VĂN

HEO MAY
15:41 | 03/01/2019

Tháng sáu nhuận, vẫn chưa mùa thu. Nhưng như đã có heo may.Chiều. Nắng vàng rực chái nhà. Giàn mướp vợ chăm bao ngày bằng nước ngâm đỗ tương, lá mập bằng mấy bàn tay mà cứ rũ như bị lửa hun. Bà Tíu lưng còng rạp đất, chống gậy ra xem gốc mướp chép miệng lẩm bẩm: Ngữ này chỉ có dỡ giàn vứt chuồng lợn. Nắng thế này, cuối năm lại rét cóng xương. Mẹ thằng Hoàng chịu khó mùa tới ra đồng mang thêm rạ về cho bọn lợn gà đấy.

Bà Tíu ngoài tám mươi tuổi. Mắt kèm nhèm. Đánh tam cúc phải ghé sát mắt, tay rờ rờ gân màu từng quân để nhận ra tướng sĩ. Nhưng bà đánh giỏi, chẳng mấy khi thua. Bà cứ nghe hơi thở mấy bà cùng chơi để đoán ai kết ai quăng, cũng giống như cảm từ cơ thể mà đoán ra thời tiết. 

Gã là cháu của bà, là chồng của vợ. Vợ gã là dân làng bún, khỏe mạnh, chịu khó. Đông cũng như hè, dậy từ 2-3 giờ sáng bắc nồi vắt bún đến sáng để giao cho các bà bán chợ. Rồi lại lợn gà, vườn ruộng, chăm 2 thằng con trai của gã nghịch như quỷ, chăm bà nhà chồng. Bao lần gã nhận thấy mình vô tích sự. Nhưng bản tính ham vui mải chơi nên gã vẫn ngáy khò khò hàng đêm mà chẳng kịp nhận ra tiếng thở dài của vợ hay tiếng lục cục giã trầu rồi nhai trầu tóp tép trong đêm của bà Tíu. Mãi đến hôm sửa nhà, dọn phòng của bà thấy chiếc hòm gỗ cũ, mở ra gã mới giật mình nhận thấy sao bấy lâu gã quá vô tâm. Thế giới của bà Tíu ở cả trong chiếc hòm ấy. Một bộ quần áo liền chị Quan họ với đủ cả phụ tùng yếm đào, đôi dép cong, bộ xà tích, khăn vấn, ghim tóc, chiếc gương vành nhựa tròn nhỏ bằng trôn bát, chiếc lược sừng trâu đen nhám. Một chiếc khăn tay thêu đôi chim câu đang quấn quýt bay bên nhau. Tờ thư giấy ố màu thời gian. Đặc biệt là chiếc mâm đồng, chiếc khăn len đan bằng tay và chiếc áo trấn thủ mới tinh. Vợ gã bảo: Đồ gia bảo của bà đấy. Lúc nào cũng khư khư cất kỹ gầm giường. Tưởng vàng bạc châu báu gì. Đúng là lẩm cẩm. Gã trừng mắt: Ăn với chả nói. Với bà, đó là châu báu thật đấy. Nó giúp bà sống đến giờ với con cháu mình. Người vợ nín im, nhìn đi chỗ khác vì sợ gã nổi cáu thêm. Vợ biết tính chồng luôn như thể dửng dưng mọi chuyện mà lại rất đa cảm, nặng nghĩ, dễ nổi giận, nhất là khi ai đó đụng tới chuyện ông bà cha mẹ. 

Bà Tíu chẳng bao giờ kể cho gã nghe về cuộc đời bà. Nhưng gã nghe qua họ hàng và người làng thì bà Tíu thủa con gái cũng giòn giã lắm. Bà không thích cái tên Tíu (gì mà tíu mới chả tít). Bà tự đặt cho mình cái tên thật mỹ miều: Kim Ngân. Rồi bà bắt mọi người gọi mình bằng tên đó. Cô thôn nữ Tíu - Kim Ngân theo chân các bà, các chị trong bọn Quan họ làng học hát và chơi Quan họ. Người thanh niên để ý đến Tíu từ khi Tíu mới mười ba mười bốn tuổi tên là Cử ở làng Ngang, xã bên. Anh chàng Cử hơn Tíu 4 tuổi. Ở tuổi bẻ gãy sừng trâu, Cử người ngang tàng, mạnh mẽ. Hội làng Tíu, anh sang thi đấu vật, giành giải lèo là chiếc mâm đồng. Lúc nhận giải, nhìn thấy Tíu thì vác phần thưởng đến dúi luôn vào tay cô rồi chạy thẳng về nhà vì xấu hổ. Cả làng đồn ầm về chuyện công khai bày tỏ tình cảm của đôi trẻ. Nhưng chửa kịp sắm ván đóng thuyền, Cách mạng Tháng Tám bùng lên, Cử hăng hái theo đội tự vệ vũ trang của xã tham gia cướp chính quyền, rồi vào bộ đội đi luôn một mạch, chỉ kịp viết mấy dòng thư dặn nếu Tíu cũng có lòng với Cử thì đợi Cử lập chiến công mang về làm quà cưới. Nhưng kháng chiến kéo dài bao năm đằng đẵng. Cô gái 13 -14 phổng phao từng ngày, ngậy hương thiếu nữ. Mà Cử thì vẫn xa hút đâu đó theo chiến dịch. Gió bấc heo may…mùa đông năm 1949, Tíu tự tay đan khăn len, may áo trấn thủ rồi theo đoàn vận lương lên chiến khu với hy vọng gặp Cử. Nhưng qua Đèo Khế Thái Nguyên thì gặp tai nạn gãy chân. Khăn áo gửi người cùng đoàn cầm giúp cho Cử, còn Tíu được mấy chị cùng làng đưa trở lại quê. Cuối năm 1953, cô Tíu lại xung phong cùng đoàn quân tiếp tế vận chuyển lương thực cho chiến dịch Điện Biên sắp mở. Lại khăn len, áo trấn thủ mang theo. Dọc đường, nghỉ đâu cô lại tham gia văn nghệ, hát Quan họ cho mọi người nghe để mà bớt mệt. Vậy là khối người biết nghệ danh liền chị Kim Ngân. Bao ngày mưa nắng nhầy nhợt, nhưng Tíu vẫn cố giữ chiếc khăn và áo khô ráo, sạch tinh. Vậy mà khi dò tìm được đến đơn vị Cử, thì hay tin Cử đã hy sinh trong Chiến dịch Biên giới Thu Đông. Tíu không khóc, chỉ nắm chặt gói khăn áo, lầm lũi trong suốt chặng đường về…

Người ta tin mọi đau buồn cũng dần qua. Bà Tíu vẫn sống cuộc sống nơi quê nhà sau ngày hòa bình lập lại. Ruộng lúa, đồng màu, con trâu hợp tác, mẻ bún vắt hàng đêm chẳng cho bà rảnh tay cứ cuốn cuộc sống đi miết mải. Thi thoảng thấy bà đi chơi Quan họ dịp đầu xuân khi vùng Kinh Bắc vào hội. Nhưng tuyệt nhiên bà chả nhận nhời ai để cùng xây tổ ấm gia đình. 

Rằm tháng Bảy, mùa thu năm 1956, trời đất cuống cuồng mây đen, heo may nổi như bão cuốn bao lá vàng thốc lên không trung đưa đến tận nghĩa địa của làng, tới tận bến sông mịt mù khói. Đêm trước, bà Tíu mơ có người bảo ngày mai ra cổng sau chùa mà nhận của. Bà chẳng hiểu điềm gì nhưng cũng tìm đến cổng sau chùa. Ở đó, bà đón được đứa trẻ ai đó bỏ trong bọc quần áo cũ đặt dưới chiếc nón lá thâm đen. 

Gã chẳng bao giờ tin mình không phải máu mủ thực sự của bà. Bởi từ ấu thơ, gã đã được ủ bằng hơi ấm cay nồng mùi trầu thuốc và những câu ru cò vạc ăn sương trót đậu cành mềm, câu hát Quan họ ăn ở trong rừng đầy u uẩn của bà. Khi gã lấy vợ, sinh con thì cũng là đận cả bố và mẹ lần lượt bệnh hiểm qua đời. Lá vàng trên cây, lá xanh bị ngắt, bà Tíu rủ bóng che cả gia đình gã trong cái dáng còng dần của tuổi tác và những nỗi đau trong đời. Hai thằng con của gã cũng công lớn do bà chăm sóc, chứ mẹ nó bận bịu tốt mặt tối mũi đâu có nhiều thời gian mà chuyện trò cùng con. Hai thằng nhỏ dường như cũng ảnh hưởng nhiều từ bà trong cái cung cách sống khá thuần quê và cái lối tư duy ca dao tục ngữ dân ca. Không giống đa phần bọn trẻ thời hiện đại mê điện tử, nhạc Hàn, rock rap, bọn trẻ nhà gã thích nghe bà hát Quan họ hơn. Gã chẳng biết điều đó có hoàn toàn là hay hay không. Nhưng gã nghĩ nếu cứ bám chặt quá vào quá khứ truyền thống mà không hướng ngoại, tiếp nhận những cái mới, cái sùng sục của đời sống đương đại thì cũng khó thích nghi thời cuộc. Mà thời cuộc là thứ vô cùng tráo trở.

Đến giờ, dẫu đi lại khó khăn, phải gậy chống nâng thân, Bà Tíu vẫn chẳng bỏ lệ tuần rằm, mồng một ra chùa làng làm lễ. Đặc biệt, cứ vào dịp rằm tháng bảy là bà ra ở hẳn ngoài chùa cả tuần. Chùa nằm tách về phía tây của làng, gió hầu như giăng suốt quanh năm. Mùa heo may, gió vờn qua gác chuông thành hẳn tiếng âm u hoài niệm. Nơi ấy thanh tịnh, nhân từ. Và đó cũng là nơi đã đem lại bao an ủi trong cuộc đời bà. Gã hình dung đôi bàn tay khẳng trơ da với xương chắp trước Phật điện của người bà trong lúc khấn cầu. Nó nhức nhối trong gã. Vì gã chẳng bao giờ hiểu được sâu thẳm trong tâm bà những khi như thế đã ăn mày gì từ Phật, cầu gì cho linh hồn những người đã về thế giới bên kia, trong đó chắc chắn có người thanh niên tên Cử, người bố, người mẹ của gã…   

 Buổi tối, gã ngồi trước hiên nhìn ngọn xoan đen lá động đậy vu vơ và nghĩ về chiếc hòm bảo bối của bà. Gã chẳng thể làm gì để giúp người bà đang như ngọn đèn cạn dầu ngoài nỗi ân hận về những lần cãi ngang, sẵng sổ giọng không cho bà ra chùa vì sợ lối đi nằm ven con ngòi, mà bà thì đang lẫn dần giữa thực tại sống và kỷ niệm xửa xưa. Vợ lặng lẽ đến ngồi bên gã, cầm theo chiếc giá đựng đầy quả đỗ đen vừa hái ngoài vườn, lẩn mẩn bóc từng quả. Tiếng vỏ đỗ bóc tay tí tách như tiếng mưa tháng ngâu lúc khoan lúc nhặt, rỉ rả như đang kể cổ tích xửa xưa. Gã bỗng nhớ hồi bé từng theo bà ra ruộng hái đỗ, dỡ lạc, đào khoai.. Làm chẳng được bao, chỉ giẫm nát ruộng. Loanh quanh rồi thể nào cũng lao vào cùng đám trẻ trong làng vật nhau chí tử. Bà chẳng trách mắng. Nhưng có lần thấy bà lầm bầm: Sao mà cái ngữ con giai lại cứ thích vật nhau... Ký ức tuổi thơ trong gã giờ đang xa mờ trong sương đời ảo ảnh và sương thực tại đang xuống trong buổi tối bên thềm. Gã giật mình vì tiếng vợ nhè nhẹ bên tai: Mình có uống nước đỗ đen cho mát không, mẹ Hoàng để trong tủ lạnh đấy. Tiếng bà Tíu vỏng từ trong phòng ra: Uống lắm đêm lại lục sục tao không ngủ được. Thằng bố Hoàng nhớ mang chăn thu cho mấy anh em nó, kẻo đêm giờ có sương, gió rồi, dễ bị cảm hàn đấy…

Gã chợt nhận ra, bên ngoài, gió heo may thu đã về thật. Nó xốn xang, có thực, giống như tiếng lục cục dằm trầu của bà trong nhà và tiếng bóc đỗ của người vợ ngồi bên./.

                                                                                                                                                                          LÊ THỤ ÂN