Liên kết website
 Thống kê
   Đang truy cập
70
Tổng lượt truy cập
88563

Trang chủ Văn học Truyện ngắn

GIÓ
15:54 | 03/01/2019

Bà đã về đến nơi. Không như mọi lần, bà thường đảo qua cầu ao khỏa nước  hóng gió rồi mới lên nhà. Hôm nay bà vào thẳng phòng khách, liếc nhìn ban thờ và quét mắt tìm ông. Phòng khách trống không. Bởi vì ông đi vắng. Lặng lẽ bên hiên, bà lừng chừng không muốn bước.

Ngoài kia, nắng chênh chếch lấp loáng trên giàn chanh leo xanh rợp chi chít những chùm quả non phơn phớt tím. Mé sát bờ dậu, những bụi cúc tần vẫn thổn thức vươn lên mặc cho những lần ông hùng hổ cầm dao phát cụt. Một vạt bìm bìm lan man bám vào nách tường hoa đang cố trổ những bông tím nhạt. Con bướm ngũ sắc rập rờn đảo cánh rồi sà xuống chậu lan bạch ngọc trước sân nhà.  Cảnh vật thân thuộc ngày nào sao với bà giờ lại thành ra lạ lẫm, bâng quơ? Bà thở dài. 

Thôi, lại phải đến nơi ấy tìm ông. Mặc dù, nơi ấy với bà quả là khủng khiếp. Nhưng biết làm thế nào? Bà sợ không đến đó thì không kịp.

Căn phòng trắng với những đồ vật trắng. Cảm giác rờn rợn. Bà chầm chậm lướt trên nền gạch men trắng đã ngả vàng. Đi qua hai, ba cái giường sắt, bà nhìn thấy ông. Một thân hình khô xác, tiều tụy, úa tàn. Đôi mắt mờ đục dõi lên trần nhà ung úng nước, dài dại và bất định.

Bà ngồi xuống bên ông. Gió ngoài kia thốc một cơn lạnh buốt khiến ông co rúm người lại, bàn tay gầy khỏng run rẩy kéo tấm chăn mỏng đắp ngang bụng mà không nổi. Bà lắc đầu… Ông ấy đã đến nỗi này ư? Thật khó tưởng tượng cái thân xác rã rượi nằm kia là ông. Giá như bà đừng rời bỏ ông, có lẽ…

Ngày bà còn là con bé con ngực mới nhu nhú chũm cau thì ông đã là một chàng trai cường tráng. Nhà nghèo, ông theo người ta đi phu ngựa trên đỉnh đèo Cun Cút, nơi bọn thổ phỉ và thám báo Pháp thường lẩn lút. Có lần đi chở sắn khô, đụng phải một toán phỉ, ông cùng mấy người bạn cầm dao quắm xông vào. Bọn phỉ đói bỏ chạy tán loạn… Về đến trại, ông rút chai mật ong đeo sẵn bên mình, tu một hơi hết nửa rồi nhảy xuống hồ vẫy vùng như cá vược. Sức vóc của ông nổi tiếng khắp vùng Sơn Động. Rồi ông vào du kích, tham gia mặt trận Việt Minh. Cướp chính quyền thành công, ông được cử đi học một lớp y tá. Công tác trong quân đội được vài năm thì ông chuyển ngành sang làm chủ nhiệm xí nghiệp cơ khí 19/8 ở huyện. 

Bà về làm bạn với ông sau mấy lần tiễu phỉ. Trai anh hùng, gái thuyền quyên, việc ấy cả huyện đều cho là lẽ đương nhiên, vì khi đó, bà cũng nổi tiếng về nhan sắc. 

Tuy sống ở vùng rừng núi nhưng cụ kị ông cha bà là người gốc Kinh Bắc, có lẽ bởi thế nên bà được trời phú cho vẻ đẹp nền nã, đằm dịu đầy chất quan họ. Lưng ong thắt đáy, vóc dáng nuột nà, mắt lá răm sóng sánh, môi trầu đỏ mọng cánh hồng, răng đen nhưng nhức hạt na. Ông gặp bà lần đầu tiên đã bị hút hồn, nhưng phải qua        cái đận bà gặp nạn trên đường ra chợ, ông bất thần xuất hiện trong tư thế Lục Vân Tiên khiến bọn cướp càn mất vía. 

Cô hàng xáo về làm vợ ông, lo toan chuyện bếp núc để ông rảnh bề công tác. Bảy đứa con nếp, có tẻ có lần lượt ra đời. Cuộc sống của ông bà tưởng như an nhiên mãi mãi…

Ông lại rúm người trong một cơn ho. Bà cúi xuống nhìn ông đầy xót xa,thương cảm. Ánh mắt bà như vuốt ve, xoa xuýt trên thân thể  gập ghềnh, lỏng khỏng của ông. Cú ngã định mệnh đã khiến ông không sao ngồi dậy nổi. Đau đớn. Bẽ bàng. Ông không thể tưởng tượng được có lúc mình lại thành ra như thế. Con mụ đàn bà ấy đã hại ông. Lúc nó giật phăng cái nhẫn kỷ vật của vợ chồng ông có khắc hai chữ lồng T-S trên ngón tay áp út của ông và bỏ chạy, mặc dù đang mơ mòng giấc lụa, ông vẫn kịp bừng tỉnh và nhoài người níu lại. Nhưng cái ghế cụt chân đã giữ chân ông. Nó đổ ngang ra đúng lúc ông túm được vạt áo sau của mụ đàn bà tráo trở. Ông ngã xuống và lịm đi. Khi tỉnh lại ông thấy xung quanh toàn một màu trắng. Đám con nhốn nháo đứng vây quanh, xì xầm nhốn nháo. Rồi chúng kéo nhau ra ngoài, khép cửa. Lúc ấy, ông mới nhìn thấy bà. Bà đứng lặng yên bên đầu giường, ánh mắt như trách móc, như nuối tiếc, xót xa…

Bà cứ trách móc nguyền rủa tôi đi bà. Như thế tôi thấy bớt nặng nề hơn. Tám mươi mốt rồi còn gì. Tôi xa bà cũng đã mười chín năm trời. Thời gian trôi nhanh quá mà cũng dài dặc quá. Mười chín năm không có bà bên cạnh,  tôi thấy cô đơn trống vắng làm sao. Giá như bà đừng dứt áo ra đi nhanh thế thì tôi đâu đến nỗi bị con cái ra điều khinh bạc. Tôi không trách chúng nó đâu. Cũng chẳng dám trách bà. Tôi chỉ tiếc, chỉ trách tôi không kiên định. Ngày ấy bà đi, trời mưa như đổ nước, tôi gọi thế nào bà cũng chẳng nghe. Bà nhắm mắt làm ngơ trước tiếng gào khóc của đàn con. Nhưng tôi biết bà ân hận và đau lòng lắm. Vì trước hôm đi, bà đã tự trách mình bất cẩn. Bà nói buộc phải phụ lòng tin tưởng của tôi và bỏ lại cháu con. Lúc ấy tôi cũng chẳng biết phải làm sao để giữ chân bà. Thôi thì để bà đi cho nhẹ lòng, thanh thản. Tôi hứa sẽ thay bà chăm lo dạy dỗ mấy đứa con. Tôi cũng đã làm việc đó rất cần mẫn với tư cách của một người cha. Thời buổi khó khăn, tôi vẫn lo đủ cơm ăn áo mặc cho chúng. Đứa nào học lên được thì cứ học, đứa nào ngại học thì cũng có việc, có nghề để kiếm kế sinh nhai. Rồi dựng vợ gả chồng, rồi đề huề cháu chắt. Nhưng nếu chỉ thế thôi thì tôi sao phải xấu hổ với bà, bà nhỉ! Bà biết cả rồi ư? Biết rồi cũng cứ để tôi nói lại bà nghe. Ngày tôi còn làm Chủ tịch xã, có bà bên cạnh, tôi an lòng công tác. Đến khi về hưu, tôi vẫn không hề thay đổi, kể cả khi bà bỏ đi, tôi vẫn là kẻ mực thước, chung tình. 

Thế rồi, người đàn bà ấy xuất hiện, nó chỉ hơn đứa con đầu của mình chừng vài tuổi. Nó vỗ về an ủi tôi lúc trái gió trở trời. Nó lại hứa sẽ cùng tôi chăm lo cho con cháu mà không đòi hỏi danh phận, quyền lợi. Tôi như kẻ đuối nước vớ được cọc, đắm chìm mê mụ trong những lời ngon ngọt.

Nó đưa tôi đi spa nhuộm tóc dưỡng da, nó bảo: chồng ơi chỉ vài lần tới đây, chồng sẽ trẻ hơn cả vợ. Nó dẫn tôi đến Khoa Nam học bệnh viện Việt Đức nó cười tủm tỉm: vợ sẽ lấy lại phong độ cho chồng. Tôi như uống phải bùa mê thuốc lú, nó cần gì tôi đều sẵn lòng đáp ứng. Nó đòi mượn sổ đỏ để vay vốn làm ăn tôi cũng gật. Nó bảo bán đất lấy tiền mở rộng kinh doanh tôi cũng ưng. Nó buôn nó bán những gì tôi chẳng buồn để ý, chỉ biết ngày ngày vui tổ tôm với đám bạn đồng môn tối về ngục mặt vào bầu ngực phồn thực của nó quên hết. Ai cũng khen tôi số đỏ, vớ được mái tơ dù quá lứa, tôi ngỡ mình đang là tiên. Chỉ có đám con cháu là không chịu. Chúng tố tội mụ đàn bà trơ tráo, nào lăng loàn, lang chạ; nào lừa bạc, lừa tình… Nhưng lúc đó tôi như người ngáo đá, tôi chửi mắng đàn con và đuổi chúng đi. Đuổi thì chúng đi. Sau nhiều lần khuyên giải nhẹ nhàng lẫn căng thẳng, chúng chẳng thèm ngó ngàng đến ông già gàn dở này nữa. 

Tôi cứ đắm chìm trong mê mụ nếu như không có một ngày, sau cuộc tổ tôm, tôi trở về ngôi nhà ấy. Ngôi nhà tôi đã bỏ tiền ra mua để đổi lấy những phút vui. Thế nhưng, bây giờ tôi chẳng còn vui được nữa, vì trên chiếc giường kia đang cuộn lên những xác thịt mà không phải của tôi. Tôi cũng chẳng biết phải làm gì, cái thân già tám mươi  rũ ra uất nghẹn, đành mặc kệ cho chúng xong keo vật… 

Tôi định lấy lại vài thứ, vốn dĩ phải dành cho con thì tôi đã trót đưa cho nó. Con rắn độc đó dứt khoát không chịu. Nó đuổi thằng kia về rồi sà đến làm lành, mong tôi tha thứ. Nó xoa xuýt, nựng nịu, dìu tôi lên phản, đợi khi tôi thiu thiu thì nó rút nốt chiếc nhẫn là kỷ vật của tôi và bà mà chạy. Tôi bừng tỉnh lao theo… Nhưng nhẫn thì không lấy lại được mà kết quả là thế này đây…

Bà muốn nói với ông một câu gì mà nghẹn ngào không thốt lên nổi. Thời trai trẻ, ông đã cống hiến sức lực, tuổi xuân cho dân cho nước, vậy mà lúc về già, ông lại không giữ nổi mình. Đành rằng, chuyện tình cảm vô cùng khó nói, nhưng chuyện ông kết nhân ngãi với một người đàn bà lẳng lơ đáng tuổi con mình thì khó ai chấp nhận, ngay cả người ngoài chứ chẳng nói gì con cái cháu chắt. Lỗi ấy một phần tại bà, vì nếu có bà bên cạnh thì ông đâu phải tìm người an ủi, vỗ về những lúc cô đơn vắng vẻ, khi đám con cháu bận làm ăn tối mắt bù đầu không có thời gian để ý đến ông. Mà chúng nó cũng đâu có sung sướng bề thế gì cho cam. Tiếng là giáo viên, bộ đội cả nhưng nghèo kiết mồng tơi. Thằng con út bỏ học đi buôn, lưu lạc vào Nam chẳng biết sống chết thế nào… Mãi cuối thập kỉ tám mươi của thế kỉ trước, đời sống chung khá hơn, chúng bớt phần khốn khó, mới có của ăn của để, có nhà cao xe đẹp để ngẩng mặt với đời, khác xa thời ông còn làm Chủ tịch. Thằng út cũng tìm đường về quê, nhưng đến khi ông đổi tính, nó lại khăn gói ra đi không hẹn ngày gặp lại. Những việc ấy bà biết cả nhưng âm dương cách biệt không thể làm gì được. Chúng cũng có cái lý của chúng. Chúng lo đến danh dự gia tộc, lo đến quyền lợi chính đáng của chúng bị xâm phạm. Mà sự thật là thế. Những gì đáng lẽ của chúng đã mất về tay một người đàn bà xa lạ.

Nhìn khuôn mặt vàng võ của ông, bà rơi nước mắt. Giọt nước trong vắt và buốt lạnh nhỏ xuống trán khiến ông giật mình tỉnh lại. Ông đưa mắt nhớn nhác tìm kiếm. Bất giác bà lùi lại, mặc dù bà có đứng yên thì ông cũng chẳng thể nhìn thấy. Thôi, ông hãy ngủ đi, tôi phải quay về nhà xem thế nào. Chúng nó đã đưa ông đến đây là chúng đã bỏ qua tất cả. Ông cũng đừng chấp chúng làm gì, bận vào thân cho thêm phiền thêm mệt…

Bà ngồi lặng lẽ bên bàn nước, mắt ngó ra sân. Khoảng sân đất ngày trước bà vẫn phơi ngô phơi thóc, bây giờ đã được lát gạch nung đỏ au. Phía trên đung đưa một giàn thiên lý mát rượi. Mảnh vườn phía sau rậm rì những cỏ. Vài luống khoai lang chỏng chảnh, xơ xác… Không có người chăm nom, ngó ngàng, nhà cửa như bỏ hoang. Con cái bà đi hết cả. Ba cô con gái giáo viên cấp một, sau thời kì giảm biên chế đều ở nhà chạy chợ. Một mở hàng quần áo, một buôn bánh kẹo, một bán tạp hóa. Cô thứ hai bán thuốc tây, lấy chồng công an nên đời sống khá. Anh con trai thứ tư là bộ đội phục viên, học được nghề sửa chữa ô tô cũng tạm ổn. Anh thứ sáu còn trong quân ngũ, làm đến chức Tiểu đoàn trưởng. Còn cậu út thì đâu vẫn ở trong Vũng Tàu… Mỗi đứa mỗi nhà, trẻ mỏ ríu rít, dù gia cảnh khác nhau nhưng vẫn quây quần qua lại. Chỉ từ khi ông thành ra thế, đứa nào cũng thấy khó gần. Bà muốn khuyên giải mà chẳng được, thế nên lòng dạ càng xa xót.

Nhớ lại cái ngày oan nghiệt năm xưa, bà vẫn còn ứa nước mắt. Con mèo lạc ấy nhỏ xíu, mà nó kêu khản thiết quá, bà đâu nỡ xua đuổi. Bà gọi nó, cho nó ăn, âu yếm vuốt ve nó. Lúc bà ngồi xé thịt bỏ vào bát cho nó, mắt nó long lanh, xanh lét. Nó gừ gừ ngoeo ngoeo rồi bỏ chạy. Bà vội vã túm nó lại. Nó quay ngoắt, ngoạm hàm răng tí xíu nhọn hoắt vào tay bà. Một chút máu rỉ ra. Bà cười, bế nó lên đặt trước bát cơm… Buổi chiều hôm sau bà ngây ngấy sốt. Con mèo bỏ đi từ đêm, bà tìm không thấy. Ngày thứ ba bà sốt cao, người run bần bật. Bà rên như tiếng mèo kêu. Bà thấy sợ nước, sợ sáng, lúc nào cũng trùm chăn kín mít trên đầu. Bác sĩ khám xong bảo muộn rồi, tiêm không kịp. Bà thấy khó thở, nhưng vẫn tỉnh táo kì lạ. Bà bảo cô con lớn đánh điện cho cậu út. Rồi bà dặn dò ông. Cả nhà rơi nước mắt. Tiếng thút thít, sụt sịt khắp trong ngoài. Bà con gần xa, xóm giềng thân hữu đến đông đủ, chờ giờ phút tiễn biệt. Bà muốn nói lắm, nhưng tiếng nói phát ra từ cổ họng bà chỉ là những tiếng gừ gừ đơn điệu. Bọt mép trào ra, phải lau bằng cả xấp khăn mà chưa hết. Nhìn thấy cốc nước cam trên tay anh tư, bà co rúm người lại. Bác sĩ xua tay, anh tư ngoảnh mặt, gạt nước mắt. Trời tháng chạp chóng tối. Người ta lịch kịch thắp đèn, khênh bàn ghế… Mấy bà bạn chùa vào thay áo cho người sắp đi xa. Họ đun nước lá thơm, lau rửa khắp người. Rét lắm, nhưng bà cắn răng chịu. Bọt mép lại trào ra. Ông nắm tay bà nghẹn ngào, lắp bắp. Ông nói gì bà chẳng nghe rõ vì đầu óc bà lúc đó còn mải nghĩ đến người con út. Tội nghiệp nó, ba mươi tuổi rồi mà vẫn chưa có vợ…

Nắng đã xiên khoai. Thôi có lẽ cũng đến lúc phải đón ông ấy đi rồi. Để ông ấy nằm đấy mãi chỉ thêm khổ. Ông đi với tôi chuyến này luôn ông nhé.

Khi bà quay trở lại thì thấy trước cổng viện một đám đông. Hình như người ta đang đưa vào cấp cứu một ai đó. Bà nhìn thấy một thân xác bê bết máu. Mái tóc xoăn xoăn xõa xượi cánh tay thõng thượt lọt ra ngoài chiếc cáng, bàn tay không dính máu nên rất dễ nhận ra có chiếc nhẫn vàng trên ngón tay áp út. Trai hay gái? Tò mò bà lướt đến gần là đàn bà, ánh mắt bà bỗng như trạm vào lửa, bủn rủn, giật thột, trời ơi cái nhẫn có hai chữ lồng TS đúc nổi chính là cái nhẫn của chồng bà. Có tiếng mấy lão xe ôm hiếu kỳ rồng rắn đi theo cái băng ca bàn tán. Con Lê phải không? Sao ả lại đến nông nỗi này! Không đến nông nỗi này mới lạ. Đào mỏ nhân tình già đi nuôi bồ trẻ, bây giờ chồng hờ đang cấp cứu ở viện, bồ trẻ vét hết của nả bỏ đi, ả quẫn trí nhẩy từ tầng ba nhà nghỉ Hương Dung xuống

Bà quay đi không dám nhìn cái thân thể tã tượi của người đàn bà và nghe đám xe ôm bàn luận nữa. Lòng buồn nẫu bà bỗng bật cười vu vơ: Không biết ông ấy có nhìn thấy cô nhân tình trên cái băng ca không nhỉ?

Cánh cửa phòng bệnh chưa kịp mở ra, bà đã nghe giọng nói khào khào của người bác sĩ: Chuẩn bị đi thôi, chẳng mấy nữa đâu. Rồi bà nghe tiếng đám con cháu sụt sịt xen lẫn những lời rù rì, cạu nhạu… Bà biết, chúng nó vẫn thương ông lắm. Dù không nói ra nhưng trong lòng mỗi đứa đều mong về đây để được nghe dù chỉ là một câu mắng mỏ, thậm chí là xua đuổi, để chúng tin chắc là ông còn nhận ra chúng. Nhưng có lẽ đã muộn rồi… Bà thở dài và quả quyết bước vào. 

Nhưng kìa! Ông đã đứng đấy từ lúc nào. Trông dáng ông khỏe mạnh như ngày bà mới ra đi. Ông đưa tay cho bà. Bà nắm lấy và thấy nó nhẹ bẫng hư không…

Ông vội vàng thế ư? Sao không đợi tôi vào đón hẵng đi. Hãy ở lại với con cháu thêm chút nữa… Mà… thằng út đã về chưa? Ngày tôi đi nó cũng không về kịp. Giờ ông đi thế này, chắc nó ân hận cả đời đấy ông ạ.

Thằng út về rồi bà ơi. Nó đang an ủi, khuyên nhủ các anh chị nó trong kia. Tội nghiệp! Nó định ra chuyến này để đón tôi vào chơi trong đó. Ai ngờ… Thằng bé không trách hận gì tôi cả. Nó bảo bố cứ yên lòng mà nhắm mắt…

Một cơn gió ào đến rất nhanh, tạt qua dãy hành lang lạnh buốt. Bà nép sát bên ông, thấy loáng thoáng một chiếc giường đẩy phủ vải trắng vụt qua, đằng sau là những khuôn mặt thất thần lao theo trong tiếng nức nở nghẹn ngào…

                                                                                                                                                                    TRẦN THỊ THU HÀ