Trang chủ Văn học Truyện ngắn

Ế LÊU ƠI!
14:41 | 09/08/2018

 

NGUYỄN THỊ TUYẾT

 

Đi từ đâu, về đâu? Chả ai biết. Người làng Đáp chỉ biết lão là người không bình thường, cứ lẩn thà lẩn thẩn, dở hơi, dở hồn, chập đều, quay ngoắt, người ta còn biết lão chuyên gánh nước mướn cho cả làng.

Làng Đáp vốn trù mật, lại ở cái thế cận thị, cận giang. Nhiều người đi Đông đi Tây... những người ở lại, người thuê thì sẵn người làm thì hiếm, thành ra lão ối việc. Cứ gánh nước cho cả cái làng Đáp này cũng nhòe...

Gọi làng cho gần gụi, ấm tình làng nghĩa nước là vậy, chứ từ xa xưa làng Đáp đã là một trung tâm giao thương quốc tế với những thương nhân Trung Quốc, Ấn Độ, Anh Pháp... từ con sông Nguyệt như dải yếm bao xanh quanh làng, cả ngàn năm nước chảy lơ thơ, vỗ về lớp lớp trầm tích mà dáng dấp vẫn mang đậm phong vị một đô thị cổ. Chả thế những năm vừa mở cửa, thời buổi còn khó khăn, đói kém là vậy, làng nước đâu đâu cũng gặp một màu xác xơ ảm đạm, tiêu điều, những cảnh đời bươn bả, vạ vật, vật lộn với miếng cơm manh áo. Thì làng Đáp lại là nơi dân tứ xứ dạt về kiếm công ăn việc làm. Không xin được vào làm thợ thuyền bè, công nhân các xí nghiệp, nhà máy, lò thủ công, thì cũng có việc khênh vác ở bến bãi, cầu cảng hoặc làm thuê gánh mướn quanh quán xá, ga tàu, chợ... người xe nườm nượp ngược xuôi tấp nập.

Chả là, ở làng Đáp nhà nào cũng có giếng nước trong veo nhưng giếng nhà thì người làng Đáp chỉ để tắm, rửa, sinh hoạt, chứ việc lấy nước dùng để đun nấu đồ ăn thức uống thì dứt khoát phải bằng nước giếng Chợ.

Nghe qua thấy cầu kỳ nhưng nếu lấy nước giếng Chợ đun lên đem pha chè, cái vị ngọt chát mạn Thái dậy hương, nước xanh ngân ngấn, sanh sánh, nhâm nhi đối ẩm thì thấy người làng Đáp có lý mà tâm đắc câu “Nhất lão làng Đáp”. Nên đi xa về gần người quê lại thèm cái cảm giác thư thái khi được vịn vào thành giếng, nghiêng mình soi vào lòng mây nước, một màu u u, trầm trầm cùng hơi nước toát lên dìu dịu... sự đời dẫu thăng trầm đến mấy cũng tan biến, bao sương gió phong trần cũng lặn sâu vào dấu xưa. Mà có khi chỉ là gợn thạch rêu con con ánh ướt, đẫm những chiều mắt nắng dầu dầu bến nước cũng đủ khôn nguôi làng.

Lạ nữa, vào những năm hạn hán, giếng của cả làng đều cạn, những lúc ấy dân trong làng phải tranh thủ dậy từ ba giờ sáng để gánh nước về cho kịp dùng. Cứ là cả làng, tha hồ, thi nhau múc nước mà giếng Chợ vẫn đầy, càng gánh, nước mạch càng phun xối xả mau hơn qua kẽ đá ong vàng óng để xanh trong đến đáy, nhìn xuống rõ mồn một. Có người ví giếng Chợ như cái rốn tinh khiết của làng. Cũng không biết có phải do bao đời người làng Đáp quen ăn nước giếng Chợ mà lúc họ gặp nhau câu cửa miệng đều là “ế lều ơi”...

Người làng còn biết lão vì lão khoái hát… dù đang kĩu kịt gánh nước trên vai, mồ hôi mồ kê nhễ nhại nhưng cứ có người phỉnh:

- Ế lều ơi! Ông Chuyển hát đi.

Thế là lão hát. Đặt phịch gánh nước lặc lè xuống đất, sóng sánh cả hai bên thùng, những giọt mồ hôi thánh thót trên khuôn mặt lũa là bóng nhẫy, hai bên lõm má không còn nhăn nheo được hơn nữa vì nó đã dính chặt hóp sâu theo những chiếc răng hàm sơ tán tận đẩu đâu. Chỉ đôi mắt tinh quái mỗi khi lão cười đều híp tịt lại là duyên hơn cả. Một ca sĩ bất tắc dĩ với thân hình thấp nhỏ, và hình như ngày càng nhỏ bé hơn, bởi hàng ngàn gánh nước bao năm vẫn đẹn trên vai lão. Khổ sở nhất là nhìn xuống cái ống quần bẻn cao, thoăn thoắt đôi cẳng chân quắt queo như hai que củi cắm lên hai bàn chân chai bè đường đất. Nhiều người thương lão gàn lão bảo tuổi ấy rồi, mỗi năm mỗi xọm, hưu cũng được rồi. Lão loanh quanh khu cầu chợ thì cũng ối việc, gì chứ ngày hai bữa cơm rượu thì đơn giản, thế có phải nhẹ nhàng không? Nhưng cái chứng dở hơi dở hồn có mà trời đầy cũng chẳng bằng. Lão tủm tỉm khi nhớ đến các bà các mợ khu chợ, gớm lôi kéo xềnh xệch nhờ bưng bê dọn dẹp quay chóng mặt, rồi giữ dịt lão, đến ngốt cả người, có mợ còn dứ nếu lão chăm chỉ lơ lâu năm thì mợ ấy gả con gái cho, có khối đấy, lão chả thèm. Thế là lão lại về loanh quanh bến nước, vừa tồng tềnh quẩy dẻo chân vừa tít mù múa hát đầu làng cuối phố, có mà vui bằng mấy chứ lị. Lão vừa vuốt mồ hôi vừa tự giới thiệu:

- Sau đây là ca sĩ Mộng Chuyển sẽ hát một bài với tựa đề “Làng tôi”.

Giới thiệu đến háo hức, “thể hiện” cho oai vậy thôi chứ lần nào chả nhất bài “Làng tôi”. Lão cứ hát mãi, hát mãi “Làng tôi”, nhưng thật ra lão cũng chẳng nhớ làng lão ở đâu.

Hai tay chống đòn gánh, nghiêng hết cả người, lão vừa hát vừa múa lưu không, điệu khua nước chèo thuyền thì phải, mà thấy giọng lão cũng chòng chành say sóng, đôi tay chèo chống khi khoan khi nhặt, lèo lái con thuyền giữa sóng cả. Cứ thế lão hát say sưa, nhịp nhàng, từng quãng luyến láy như thật... Tiếng hát lão ở mọi lúc mọi nơi khắp làng Đáp, khi mơ hồ luẩn khuất vào từng xanh mây trắng, khi vời vợi la đà gốc đa già uể oải, vô tình nhức nhói đỏ lên những ánh mắt già nua mòn mỏi, u hoài, xa xăm hay in trong những đôi mắt tròn vo của lũ trẻ đang há hốc mồm ngẩn ngơ... Khi dật dờ trên những liếp ngói nghiêng nghiêng dạt nắng gió. Khi miệt mài uyển chuyển thăm thẳm từ lòng sông. Phố với làng bao tất tả cuộc mưu sinh như được dừng lại, vòng quây với khúc “Làng tôi” của lão, những lúc ấy khuôn mặt của làng cũng được giãn mềm nắng bụi. Lão cứ hát “làng” như cơm bữa đến độ từ người già đến đứa trẻ hôi sữa đều thuộc “Làng tôi”.

Giếng Chợ khơi rộng phải bằng cả mấy gian nhà, giếng nằm ngay bên cạnh khu đền Ông Thiêng, sau bức tường lửng, ngăn giữa là một mảnh vườn lọt trong đền. Nói là vườn nhưng bỏ hoang nhiều hơn, mọi thứ cứ tốt um tùm nào có người phát dỡ quang đãng, chỉ tiện cho lão có chỗ ra vào. Ngôi đền tối tối vẫn được các cụ khóa chặt mấy lớp, tỏa ngào ngạt trầm hương, thánh thần trong đó có động tâm thương xót lão lắm, cũng chỉ níu lấy những tàu lá chuối bè bè mà chở che giấc lão.

Đêm, xào xạc, tiếng va cọ sột soạt phập phồng tàu lá, gió khi giỡn xập xòe hất tung từng vạt chuối, khi ưỡn cong lim dim mắt lá hứng ánh trăng leo lẻo. Cũng chẳng bõ gãi tai lão... mặc, lão gáy phì phò, ấm ứ, chọp chẹp.

Đêm và sương ru ri thấm đều tất thảy, ẩm sì cả vào giấc mơ... Lão cũng từng mơ về một giai nhân. Nhưng giai nhân của lão có phần ồ ề, vạm vỡ, ù ì, và bĩu bậm, trong giấc mơ lão thường gặp, chẳng nhớ được cái đêm hoang đó lão dạt về đâu và đã rúc rích ở xó xỉnh nào. Mụ khi cười khi khí, khi rít lên cấu cào lão và bằng những ngôn ngữ xa lạ hơn cả lão, mấy cái nhéo dồ dại đó vẫn còn tím dầm trong ngực lão. Thế cũng đủ cho giấc mê tơi ú ớ sũng sượt và tan biến... Đâu đó có tiếng mèo gào làm lão choàng tỉnh. Đêm mú mớ hoang hoải, lão ngồi ngây dại bên đôi thùng không nước lẩm nhẩm hát “Làng tôi”.

Ừ thì gánh, lão còn phải gánh hết nước của cái giếng Chợ này, như để thách thức với giời... Và sáng mai, sau một giấc nghỉ khỏe khoắn, lão lại hồ hởi rong rẩy gánh hát chia khắp xóm cùng ngõ hẻm, những giọt mát lành sóng sánh lung linh chắt chiu từ mạch ngầm, rêu rao theo tiếng hát lão. Đâu đây còn réo rắt khúc “Làng tôi”...

“Ế lều ơi”… mang mang tới tận bao giờ…