Trang chủ Văn nghệ dân gian Lý luận

DÒNG SÔNG TIÊU TƯƠNG CỔ
15:35 | 08/06/2018
DƯƠNG MẠNH NGHĨA
 
 

Lịch sử và văn hóa vùng Bắc Ninh - Kinh Bắc gắn với các dòng sông (cổ). Sông Dâu (lõi) của sông Thiên Đức nay gọi là sông Đuống, sông Nguyệt Đức nay gọi là sông Cầu, sông Ngũ huyện Khê (xưa) sông Thiếp), sông Tiêu Tương, sông Tào Khê. Các dòng sông suối luôn là nhân tố "phù thịnh" trong việc tồn tại sự sống và phát triển của các tốp cư  dân "Việt cổ" xưa... và đến ngày nay.

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc: Sông Dâu với thủ phủ là Luy Lâu có thể gọi là thủ đô đầu tiên của người Việt. Sông Cầu "Nước chảy lơ thơ" âm vang bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên "Nam quốc sơn hà Nam đế cư", sông Đuống đỏ nặng phù sa "Nằm nghiêng trong kháng chiến trường kỳ chống Pháp", Bình Than - Lục Đầu - Phả Lại vang vọng lời thề "thát sát" của quân dân nhà Trần.

Sông Tiêu Tương "Dòng sông văn hóa" truyền tích về câu chuyện tình bi thương giữa Mỵ nương và Trương Chi mà cả nước biết đến. Đó là tiếng hát của tình yêu lứa đôi, dẫn tới những lời ca Quan họ ngày nay của người Bắc Ninh - Kinh Bắc.

Theo sách Đại Nam nhất thống chí (triều Nguyễn): "Sông Tiêu Tương (cũ) ở địa giới phủ Từ Sơn, phát nguyên từ cái đầm lớn ở xã Phù Lưu, huyện Đông Ngàn, chảy từ phía Tây sang phía Bắc xã Tiêu Sơn, huyện Yên Phong, chuyển sang địa phận hai huyện Tiên Du và Quế Dương vào sông Thiên Đức. Nay sông này có đoạn lấp bồi thành ruộng, gián hoặc có vài đoạn còn sâu".

   Sự hình thành và tồn tại của dòng sông Tiêu Tương có trước khi các chòm xóm cư dân Việt cổ bám đậu hai bên bờ và các bãi bồi để sinh sống. Từ buổi đầu sơ khai do thiên nhiên tạo hóa, nước mưa từ thượng nguồn tự do chảy "Nước chảy chỗ trũng". Khởi đầu chảy tràn rồi tụ lạch thành khe: Suối nhỏ, suối lớn, càng về đồng bằng nguồn nước không bị che chắn chảy tỏa rộng đi các nơi theo địa hình đất thấp. Các vùng quá thấp, trũng, lưu nước gọi là đầm hồ cấp nước cho dòng chính về mùa khô. Loa Hồ là một trong những điểm lưu nước của dòng Tiêu Tương. Trong quá trình chảy, dòng nước tự tạo lập ra những bãi bồi sình lầy cao thấp ven sông, giữa sông, để các chòm tốp cư dân (Việt cổ) tồn tại và phát triển.

   Dọc đôi bờ Tiêu Tương (cổ) các nhà nghiên cứu khảo cổ, đã phát hiện nhiều di tích từ xa xưa như: Xưởng chế tác các vật dụng lao động, trang sức của con người Việt cổ, các thành lũy, đình chùa một tháp thời Lý - Trần Lê - Nguyễn. Các hiện vật khảo cổ có đầy đủ các bằng chứng - chứng minh, người Việt cổ có mặt những nơi này từ 3000 - 3500 năm cách nay.

   Sự hình thành, tồn tại của dòng Tiêu Tương suy luận có 4 giai đoạn:

   - Giai đoạn thứ nhất: Nước chảy tự do chưa có sự tác động của con người như đắp đê quai hoặc che chắn dòng chảy.

   - Giai đoạn thứ hai: Đã có sự tác động con người bằng thủ công. Đó là khi hình thành hệ thống sông Đuống thay cho sông Dâu (cổ) vào thời Trần, đã cắt đứt đầu nguồn nước của Tiêu Tương, các khe lạch suối đều đổ vào sông Đuống. Ở phía cuối nguồn, sông Ngũ huyện Khê (sông Thiếp Cổ) đón nước còn lại của Tiêu Tương, chảy ra sông Nguyệt Đức (sông Cầu). Rừng núi cây cối cũng bị con người khai thác phục vụ cuộc sống, nguồn nước  không được che chắn cũng cạn theo. Việc đắp đê để chống chọi với thiên nhiên bão úng (mùa mưa) đắp đập giữa nước dự trữ (mùa khô) nhằm phục vụ canh tác nông nghiệp, hoặc các việc khác cũng gây cho Tiêu Tương nước cạn, nên tự nó thu nhỏ dáng hình lại và sông bị bồi lắng liên tục.

   - Giai đoạn ba: Có sự tác động của con người về cơ giới và điện năng... Sử sách ghi: "Đến thời Lê thế kỷ thứ XV, dòng sông Tiêu Tương lâu năm không được nạo vét đã bị đứt dòng. Thời Nguyễn thế kỷ thứ XIX, các gò bãi và lòng sông đã bị bồi lấp, cư dân đã san lấp dựng cửa làm nhà".

   Đặc biệt là từ khi thực dân Pháp vào xâm lược nước ta từ cuối thế kỷ thứ XIX; Để hoàn thiện cơ sở hạ tầng giao thông phục vụ cho mưu đồ bóc lột, Pháp hoàn thiện tuyến đường xe lửa, đường quốc lộ 1 nối từ kinh thành Thăng Long (Hà Nội) đến mục Nam Quan. Dòng Tiêu Tương đã bị cắt nhiều đoạn do hai tuyến đường này. Tiêu Tương đã hết lối và khan đặc, ngoằn nghoèo phơi xác trên đường nó đã chảy qua hàng ngàn năm tồn tại.

   - Giai đoạn thơ tư: Tốc độ đô thị hóa, nơi có dòng Tiêu Tương chảy qua biến đổi hàng ngày, đồng ruộng cây trồng thay đổi, ao hồ kênh rạch, đồi núi vết tích còn lại của Tiêu Tương bị san lấp xâm lấn. Đặc biệt là mạng lưới quy hoạch đô thị dày đặc gồm có đường xá như mạng nhện, các dãy phố nhà cao tầng, chợ búa mọc đầy như nấm. Vì vậy: Nếu không nhanh đi tìm và lần lại dấu tích thì Tiêu Tương chỉ còn là huyền tích.

   Dòng chính phát nguyên từ Loa Hồ, điểm phát nguyên là chợ Yên Lã nay, Nam thôn Yên Lã - Bắc thôn Dương Lôi. Theo trục Tây - Đông đến khu chợ (cổ) Yên Lãng, có ngã ba sông và đền thờ Đức Thánh Tam Giang. Sông phân thành hai nhánh.

   - Nhánh thứ nhất: Có cửa sông trước chảy về phía nam sau chùa Quỳnh Lâm, chảy Đông làng Dương Lôi trước cửa chùa Cha Lư, vòng phía Tây qua đầu hồi đình ra khu Đồng Vàng (Dương Lôi) xuống vùng xã Đại Đồng nhập vào sông Tào Khê ra sông Đuống.

   - Nhánh thứ hai: Cửa sông chảy sau vài trăm mét theo hướng Bắc qua Đông thôn Yên Lã (có miếu Lã), đây là cửa sông Tiêu Tương chảy về thôn Xuân Thụ - qua Cẩm Giang, Tam Lư, Vĩnh Kiều (Viềng lớn), Vĩnh Kiều (Viềng Bé), Lễ Xuyên (Sậy) Sậy nơi truyền tích nói về "Trương Chi thường ngày đánh cá hay vào Đầm Sậy lấy trúc làm sáo". Sông chảy tiếp qua núi Tiêu Sơn (có chùa Tiêu) chảy dọc qua 5 thôn của xã Tương Giang là Tiêu Thượng, Tiêu Long, Hưng Phúc, Tiêu Sơn, Tạ Xá. Qua xã Nội Duệ, Duệ Nam, Đình Cả, Duệ Khánh, Lộ Bao. Duệ Đông, Núi Lim (có chùa Lim - hội Lim) trị sở huyện Tiên Du, Lũng Giang thuộc thị trấn Lim. Xóm thanh Lê, Đông Đạo thuộc xã Lũng Sơn. Thôn Xuân Ổ (Ó), Đống Cao thuộc thành phố Bắc Ninh. Xóm Hạ Giang (cuối sông) thuộc xã Phú Lâm huyện Tiên Du, cuối nguồn nước sông Tiêu Tương chạy qua cống (Rừng) nhập vào Ngũ Huyện Khê (Sông Thiếp) qua cống Đặng ra sông Cầu (Nguyệt Đức). Giữa xóm Thanh Lê và Đông Đạo xã Lũng Sơn (có một ngã 3 sông) tên địa danh là nghè khoát, có đền thờ Đức Thánh Tam Giang, có một nhánh sông chảy về phía Nam xuống Cầu Còng (cầu quan trạng) thôn Hoài Thị, xã Liên Bão, huyện Tiên Du, rồi chảy sang Quế Dương (cũ) nay là huyện Quế Võ như Đại Nam nhất thống chí viết.

   Sông Tiêu Tương chảy ngoằn ngoèo trên dường nó đi qua, có chiều dài trên dưới 18.000 mét (18 km). Cùng dòng chảy của Tiêu Tương có hai nhánh sông khác đều chảy về phía Nam, đều có ngã ba sông và đều có đền thờ Đức thánh Tam Giang như trên đã nói.

   - Sông Tiêu Tương chảy qua 9 xã, phường, thị trấn. Qua 22 thôn, 6 xóm, qua 8 làng quan họ cổ.

   - Sông Tiêu Tương chảy qua hai quả núi: Núi Tiêu (có chùa Tiêu) xã Tương Giang, huyện Từ Sơn (nay). Núi Lim (Hồng Vân Sơn) có chàu Lim - Hồng Ân Tự thuộc thị trấn Lim huyện Tiên Du.

   - Sông Tiêu Tương bị tuyến đường sắt Hà Lạng "cắt" 7 nhát và tuyến quốc lộ 1A (cũ) Hà - Lạng cắt 7 nhát.

   - Trên đường của sông Tiêu Tương đi "hằn tích" còn lại trên đồng ruộng rõ nét: Đoạn thuộc địa phận xã Lũng Sơn, thị trấn Lim; đoạn thuộc địa phận từ thôn Yên Lã đến thôn Xuân Thụ, đoạn trong địa bàn thôn Tam Lư.

   - Sông Tiêu Tương còn những diện tích hồ ao nối nhau dài rõ nét: Đoạn thuộc địa phận 5 thôn Tiêu, xã Tương Giang là: Tiêu Thượng, Tiêu Long, Hưng Phúc, Tiêu Sơn, Tạ Xá. Đoạn địa phận thôn Vĩnh Kiều (Viềng lớn); Đoạn Vĩnh Kiều (Viềng Bé), Lễ Xuyên (Sậy) thuộc phường Đồng Nguyên; Đoạn địa phận thôn Lộ Bao, xã Nội Duệ; Đoạn địa phận thôn Duệ Đông, thôn Lũng Giang thị trấn Lim.

Sông Tiêu Tương đến nay không còn... Nhưng nó còn in đậm dấu tích trong tâm trí, trong lòng "bia miệng" của người dân vùng Từ Sơn, Tiên Du, Yên Phong mãi mãi của người Bắc Ninh - Kinh Bắc chúng ta... Sông Tương vùi lấp bao đời/ Mạch nguồn vẫn vọng những lời tình xưa/ Ngàn năm chìm nổi nắng mưa/ Mà nay vẫn tưởng như vừa đây thôi./.