Trang chủ Văn học Truyện ngắn

CÒN NHỮNG CON ĐƯỜNG
10:38 | 30/11/2018

 Đã ba mươi năm tôi mới trở lại Đại An. Dẫu biết làng quê thay đổi nhiều tôi vẫn tin là mình sẽ tìm thấy nhà anh, ngôi nhà sát cái giếng đất to đùng như cái ao làng, được xây bờ xung quanh bằng thứ gạch Bát Tràng màu mận chín và những phiến đá dài hình chữ nhật. Cách đó không xa là ngôi đình bảy gian đồ sộ, nhìn xa tưởng mái úp hẳn xuống đất, vào trong mới thấy cao vòi vọi, mát rượi. Trước cửa đình một bên là cây đa sù sì, một bên là cây muỗm nhẵn thín. Cả hai có lẽ gấp tôi hàng chục lần tuổi.

Đơn vị tôi đóng quân ở Đại An đúng 9 tháng 10 ngày. Chúng tôi thuộc từng gốc cây, mô đất và nếu không nhút nhát có lẽ tôi đã là giai tế Đại An, anh đã là anh vợ tôi...

Con đường bê tông nối vào tỉnh lộ 283 thay cho con đường đất ngoằn ngèo xanh ngắt phi lao, không làm tôi lạ. Bây giờ đâu mà chả bê tông. Bánh xe máy dèo dèo như đang bị dán chảy thành mỡ. Tôi phải dừng xe định vị. Quái, cuối con đường phải là cái giếng, hết giếng, phải là đình và bóng mát mênh mông của hai cây đa, muỗm. Nhưng con đường bê tông bỏng rát cứ như dài vô tận. Hai bên là hai dãy nhà đủ loại kiểu cách: hai, ba tầng ; chóp tròn, chóp tứ, lục, bát giác, xanh, vàng, trắng, gạch cua, nhoè nhoẹt, nhoe nhoét, ngổn ngang như đồ chơi con trẻ. Hàng quán san sát, mùi thơm nức mũi đè ập mùi nước đái bò, phân ngựa, vương đầy mặt đường. Tôi ngơ ngác nhấn ga. Một thôi ra hết làng lại là cánh đồng êm đềm đang rìu rìu lúa mảy đòng xanh đậm. Vòng đi vòng lại mấy lần tôi cũng không tài nào tìm thấy dấu xưa, đành cho xe lăn từ từ tìm một nơi có bóng mát, hỏi thăm. Người thứ nhất tôi gặp là một ông già thong thả đạp chiếc mini Nhật. Có lẽ ông là một cán bộ về hưu.

- Chào bác, bác cho tôi hỏi thăm nhà bác Chánh.

Ông dừng xe nhìn tôi từ đầu đến chân soi mói và lưỡng lự. Tôi thật sự khó chịu. Đúng là ông già lẩm cẩm. Biết thì chỉ, bằng không thì bảo không biết, nếu khinh người thì làm động tác lắc đầu có gì đâu mà phải dò xét cứ như cái thời phải thực hiện “ba không”.

- Không, không có ai.

Sau cùng ông cũng trả lời rồi từ từ đạp xe đi.

Người thứ hai là một cháu bé khôi ngô, lanh lợi. Cháu trả lời dứt khoát: “đây không có ông Chánh”. Tôi ngạc nhiên kêu lên: “Ơ” định giơ tay giữ cháu lại để hỏi cho ra nhẽ, nhưng cháu đã chạy vút đi khuất vào trong ngõ hẻm.

Tôi xuống xe. Trời đất, mình vô ý quá. Về dân thôn mà ngồi chồm chỗm trên xe hỏi thăm, người ta tha chửi là còn phúc. Có tiếng còi xe máy, một người quân phục chỉnh tề nhô ra, chân còn lê trên mặt đường, chiếc Dream Tàu giật giật, lúc lao nhanh, lúc dừng hẳn, rin rít. Tôi dựng xe, chạy đón đầu:

- Chào ông. Xin ông chỉ giùm tôi nhà bác Chánh.

- Ở đây không có ai là bác Chánh

Tôi chợt nhớ ra. Tên hồi nhỏ của anh là Cháo. Chả là ngày xưa đói kém, mang thai anh, mẹ toàn ăn cháo nên khi đẻ ra bố bảo đặt tên anh là Cháo để không bao giờ quên cái nghèo, cái nhục của người mất nước. Sau này đẻ em gái bố anh đặt tên là Cơm, cũng là để tự hào về những ngày có Đảng, có chính quyền cách mạng. Nghĩ vậy, tôi vội bảo:

- Tên bác ấy hồi nhỏ là Cháo.

- Đã bảo không có ai là bác Chánh, mà cũng chả có ai là bác Cháo, bác Cơm.

- Thế đây có phải là Đại An?

- Đúng. Đại An.

Chiếc xe vọt lên, ông luống cuống phanh ken két rồi ngoái cổ nhìn tôi thương hại:

- Ở đây không có bác Cháo, bác Chánh mà chỉ có thằng Cháo, thằng Chánh. 

Sao lại thế, thằng thì chỉ có là trẻ con đằng này anh đã quá lục tuần, ngày xưa người ta đã gọi anh là “Đại nhân”. Tôi hỏi thêm dăm bảy người nữa, nhưng thật ngạc nhiên họ đều nói như cái ông đi xe máy chưa vững ban nãy, đều lắc đầu bảo là “không có”.

Nhưng sao lại không? Điên cả rồi. Cái thời buổi đến người làng cũng không biết nhau thì loạn. Chê gì Hà Nội, chê gì người phố. Người phố tầng dưới không biết tầng trên, giáp vách nhau vẫn chỉ là người ngoài đường, ngoài ngõ. Hai đứa trẻ đấm nhau hộc máu mồm trước cửa cả nhà vẫn bình thản ăn cơm, chỉ khác là đặt bát xuống mâm khe khẽ. Thằng con nhà bên cạnh giật phắt túi tiền của chị hàng gạo vừa bán cho nhà nó rồi chạy vụt vào ngõ, cả nhà chứng kiến cũng chỉ lắc đầu “cái thời buổi... thật là...”. Nhưng đấy là phố, có như thế mới được gọi là người phố. Đằng này làng xóm “tối lửa tắt đèn” chả nhẽ bây giờ có điện, “tách” một cái là sáng quắc, chẳng còn phải vay dầu, mượn đèn nên chẳng thấy cần nhau? Chứ sao lại không? Năm kia anh ấy còn lên tivi báo cáo thành tích xây dựng nhà tình nghĩa, huyện anh ấy đứng đầu tỉnh, tỉnh anh ấy dẫn đầu cả nước. Làng Đại An của anh ấy nổi lên như một điểm sáng cơ mà? Thế thì tại sao? Tại làm sao?

Tôi dắt xe vào một ngõ hẹp, vì thoáng thấy dưới gốc cây sung có quán nước nhỏ. Tiếp tôi là một bà lão phúc hậu, mắt sáng, còn nhanh nhẹn, khoẻ mạnh nhưng hình như răng đã rụng hết nên tiếng nói khào khào xa xăm như gió. Bà cụ vui hẳn lên khi biết tôi là lính ông Đạo. Ông Đạo dân miền Nam, tiếng thì trọ troẹ nhưng ấm áp, có sức lôi cuốn lạ kỳ. Lương Đại uý ăn cùng lính tráng, tứ thời quân phục, giầy cao cổ thối khẳn, mà chưa hết tháng đã hết tiền. Người làng Đại An không mấy ai không được ông dúi cho dăm ba đồng hoặc chiếc quần, cái áo, cho cả những đôi giày mõm nhái láng bóng. Gần năm chục tuổi vẫn là lính “phòng không”. Hội mẹ chiến sĩ, hội phụ nữ xã họp nhau quyết định làm mối cho ông, ông chỉ gật gật cảm ơn, bảo rằng bao giờ miền Nam giải phóng. Nhưng cả đơn vị biết ông thương một người phụ nữ bốn con, chồng hy sinh bên Lào, suốt ngày quần quật ngoài đồng nuôi mẹ già và đàn con nhỏ. Anh Chánh lúc đó là Đại đội trưởng Đại đội một, là người tích cực vận động để đôi “uyên ương già” gắn bó. Nhưng rồi lệnh báo động từ trên dội xuống, cả đơn vị ra đi, ông vĩnh viễn không bao giờ quay lại. Tôi và anh đã đau đớn nghe những lời trăn trối mà cũng là mệnh lệnh cuối cùng của người Tham mưu trưởng Trung đoàn chúng tôi đều coi là người anh cả: “Các cậu nhớ là phải tiêu diệt... nhờ các cậu giúp đỡ Lành... Cô ấy là người tốt”. Tiểu đoàn trưởng Chánh bặm chặt môi vớ khẩu AK hô xung phong và anh là người đầu tiên nhảy vào căn cứ địch, lia những loạt AK tiêu diệt những ổ đề kháng. Trận ấy tôi bị thương nặng phải cáng về phía sau. Nghe nói vẫn cái bặm môi ấy anh cho mấy chục tên tù binh sắp hàng cầm ngang khẩu AK lia hết một băng, lắp tiếp băng thứ hai tiếp tục lia đến khi cả dãy tù binh không tên nào ngoi ngóp, anh vứt súng ôm xác ông Đạo khóc ngằn ngặt. Mai táng ông Đạo xong anh ngồi viết bản kiểm điểm tự xin hạ hết cấp chức chỉ xin được tiếp tục đứng trong hàng ngũ của Đảng. Cả đơn vị đứng về phía anh, chỉ đề nghị cấp trên cảnh cáo. Nhưng kỷ luật là kỷ luật, đó chính là sức mạnh. Cuối cùng anh bị cách chức Phó Bí thư Đảng uỷ Tiểu đoàn, từ Đại uý xuống Trung uý, từ Tiểu đoàn trưởng xuống Đại đội trưởng và theo nguyện vọng anh được trở lại cơ quan cũ về làm Phó Bí thư Huyện đoàn, một huyện bên kia bờ sông Đuống.

Trận ấy có lẽ là trận cuối cùng trên đất liền. Nó diễn ra khi trên tầng 4 Dinh Độc lập lá cờ nửa đỏ, nửa xanh đã phần phật tung bay. Khi Chính uỷ Trung đoàn đọc quyết định kỷ luật cả tiểu đoàn đã khóc, rồi cả tiểu đoàn tiễn chân anh. Chính uỷ bùi ngùi, xúc động:

- Mình tin ở cương vị nào, cậu vẫn là thằng Chánh trung thành, cương trực, lập trường quan điểm rõ ràng. Mãi mãi cậu vẫn là một người chân chính...

Thế thì tại sao ở tại làng quê anh, nơi cắt rốn chôn rau, nơi anh đã trở lại chín tháng mười ngày để một lần nữa sinh ra, người ta lại quên anh? Trẻ con đã đành, còn các ông bà già? Còn cái người mặc quân phục? Có khi ông ta đã từng sát cánh với anh những ngày chống càn bên Quế Ổ hoặc cũng là một trong những người lính của trung đoàn thép, thậm trí của tiểu đoàn đổ nhiều máu nhất khi vượt qua Xuân Lộc…

- Chú là người tốt, tôi biết. Đấy là tính đến hôm nay, còn ngày mai, ngày kia tôi chịu.

Bà lão khào khào nói vậy, rồi không hiểu sao bà bỗng đăm chiêu ra chiều nghĩ ngợi. Mãi sau cái ngôn ngữ khào khào của người vừa móm vừa già mới lại thoang thoảng cất lên:

Sau chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975, có một người lính trong rất nhiều người lính đã trở về. Ông ta tới tìm tôi, trao tôi những kỷ vật của người đã khuất. Vợ ông ta dắt đứa con gái ra đón chồng cứ đứng như Từ Hải mặc cho hai hàng nước mắt chảy tràn trên khuôn mặt rầu rĩ nắng mưa. Dân làng quý ông lắm, coi ông như một người anh hùng, như một người ruột thịt. Ông được điều về một huyện bên kia sông, mỗi ngày thêm béo ra, trẻ lại. Năm năm ông ta sinh thêm ba cô con gái và nghe đâu đã leo lên chức Phó Chủ tịch huyện.

Bố ông ta – cụ đồ Chân khi ấy đã tròn tám chục, là người danh tiếng từ xưa đã vang xuống cả mấy huyện Hưng Yên, vang khắp bên kia bờ Bắc Đuống. Trung thu năm ấy cụ ngắm bầu trời trong vắt miệng lẩm bẩm:

- Không lẽ dòng họ Tống đất Đại An tuyệt diệt! Nhưng thà tuyệt diệt còn hơn đánh mất chữ Tâm, chữ Đức.

Cụ lẩm bẩm nhiều lần, mỗi lần rơi vào tai ông Phó Chủ tịch một ít cho đến lúc ông giật mình nghe hết lời than của bố. Rồi một đêm mưa gió ông tỉ tê cùng vợ :

- Mình ạ. Nhà mình dột nát quá. Tôi làm đơn xin huyện mấy vạn gạch, mấy nghìn viên ngói móc gọi là chạy lợp cho ông, cho mình, cho các con đỡ khổ. 

Người vợ cảm động rúc đầu vào nách chồng. Ông thấy nách mình ẩm và ướt. Ông ôm ghì lấy vợ mà hôn vẫn đắm say như hồi ra trận. Ân ái xong ông bảo :

- Mai tôi đi sớm, mình ký vào đơn này để tôi đem xuống lò ngói cho họ duyệt, càng sớm càng tốt.

Người vợ mệt mỏi ngáp dài đưa tay loằn ngoằn một chữ Lan mộc mạc rồi lăn ra ngủ...

Lan à? Vợ anh cũng tên Lan. Khi đơn vị đóng quân ở Đại An, anh chị đã có cháu Thuỷ, gái một con trông mòn con mắt. Anh tự hào về vợ, chị Lan tự hào có người chồng tài hoa yêu vợ hết lòng. Chuyện tình của anh chị vừa bi thương, vừa lãng mạn cả dân cả làng, cả tiểu đoàn chúng tôi đều biết.

Năm ấy anh đang học lớp mười trường Hàn Thuyên trên thị xã. Chiều thứ bảy nào anh cũng đạp chiếc xe cũ kỹ qua bến Tầm Phu xin tiền cha mẹ. Lần nào anh cũng được cô gái chở đò cho ngồi trên mũi thuyền, lắc bím tóc dài đen nhánh, từ chối không nhận một hào công chở. Anh biết cô lái đò có cảm tình với mình, nhưng anh chỉ coi cô như người bạn tốt. Chuyến đò giáp tết không chỉ mình cô mà thêm một cô gái nữa, ríu rít tranh nhau cầm lái và thật lạ lùng chỉ một lần gặp nhau, anh đã thấy xốn xang, cứ như cái cô mới xuất hiện kia đang nghịch ngợm khua mái chèo trong trái tim rạo rực của anh. Rồi cô biến mất. Hình ảnh buổi chiều ấy không tan, nó cô lại đặc quánh khiến anh ngẩn ngơ. Cô lái đò lầm tưởng anh yêu cô, mái chèo khua càng dẻo, mặt cô càng hồng rực và câu Quan họ mênh mang rập rờn theo sóng nước. Mùa xuân trôi qua. Một trưa hè anh sung sướng đạp vội xe về báo tin cho cụ đồ anh đã tốt nghiệp loại ưu, anh sững sờ thấy chị đứng ven đường vừa như vô tình, vừa như chờ đợi. Thế rồi anh chị yêu nhau. Cô lái đò thất vọng nghĩ trăm ngàn cách trả thù. Bao nhiêu bi kịch, bao nhiêu nước mắt. Nhưng rồi đám cưới vẫn được tiến hành. Thuyền chú rể cô dâu giữa dòng đầy nước. May anh bơi giỏi nên đã đưa được cô dâu nhợt nhạt vào bờ...

Ôi chị Lan! Chị thật hạnh phúc và cả cái chị Lan mà bà lão đang kể đây cũng thật là hạnh phúc.

- Cái chị Lan ấy... bà lão lại khào khào kể tiếp. Có ngờ đâu đó là đêm cuối cùng cùng chồng ân ái. Lá đơn ấy đâu phải là lá đơn xin mua gạch mà là đơn xin li dị.

- Sao lại thế, người ta tráo đơn à? Không, không thể thế.

Sự đời nó là thế, sao lại cứ bảo không. Nhưng mà chị ấy mới đáng mặt đàn bà. Trước toà án chị ấy đau khổ thừa nhận “Tôi đã nhầm nhưng không ân hận. Tôi đồng ý li hôn với điều kiện con tôi đẻ tôi nuôi, không khiến ai chăm sóc chúng nó!”

Chú có nhìn thấy hai toà nhà ba tầng ở chỗ ngày xưa là cái giếng vỉa gạch Bát Tràng và đá xanh không? Của mẹ con nhà họ đấy. Toà chợt đến là của vợ chồng cô cả, toà thứ hai là của vợ chồng cô hai, cô ba công tác trong Vũng Tàu nghe nói làm chức gì to lắm bên dầu khí, còn cô tư đang học đại học sư phạm ngoài Hà Nội.

Chú hỏi ông cụ có đồng ý không à? Nếu cụ đồng ý thì ai còn gọi là cụ đồ Chân. Khi nghe tin con trai lập mưu lừa con dâu để li hôn, cụ âm thầm lau chùi bàn thờ, thắp một nắm hương to, quỳ xụp lậy tổ tiên, nước mắt tràn trên gò má nhăn nheo đọng vào bộ râu như những mảnh thuỷ tinh sắc ngọt. Sau đó cụ làm giấy cắt đứt con trai, nhận con dâu là con gái. Cụ viết bốn bản, hai trên giấy hoa tiên bằng chữ nho, hai trên giấy men bằng chữ quốc ngữ, yêu cầu UBND xã xác nhận. Đêm ấy cụ tắm gội sạch sẽ, lấy vải đỏ quấn kín mặt mũi về nhận tội với tổ tiên vì đã sinh ra đứa con thất đức.

- Thế ông ta, cái ông Phó Chủ tịch huyện có về chịu tang không?

- Có chứ, bao nhiêu vòng hoa, bao nhiêu phong bì và những lời thống thiết. Đúng là một bọn đạo đức giả. Vợ con, họ hàng, dân làng thương xót cụ đồ, căm ghét ông ta. Ông ta không thể biện minh, kể cả hào quang quá khứ, thậm chí quá khứ còn là tòng phạm. Đúng là bài học đắt giá.

- Nhưng quá khứ có tội tình gì?

- Sao lại không? Quá khứ luôn là thứ men say, nếu rắc đủ độ sẽ cho rượu thơm lừng, rắc quá (tức là phô phang, công thần) sẽ hăng xì trơ trẽn và làm đà cho bao điều xấu. Không ai được quên, không ai được lạm dụng thứ men ấy. Đằng này ông ta vừa quên, vừa lạm dụng, ông ta đã tự đánh mất mình. Nhưng …(bà lão ngẫm nghĩ một lúc) suy cho cùng thì quá khứ không có tội, cái chính là lòng người thay đổi. Con người không từ bỏ sân, si, ái, ố, không chịu quay về vạch xuất phát, con người cứ muốn xô lấn, muốn vượt lên, nhoi cao bất chấp chữ Tâm chữ Đức.

Những tia nắng xé rách tấm mành thưa rọi vào giữa quán. Bà lão chậm chạp chuyển chỗ, có lẽ vẫn đang mải nghĩ về con người, lòng người.

Nhưng rồi mọi chuyện trôi đi… Bà lại tiếp tục câu chuyện. Người ta còn bận lo cho cuộc sống, hoài hơi mà thóc mách chuyện người khác. Thế rồi cơ chế thị trường ập đến như cơn lốc mùa hè, không khí oi nồng bay hết, rác rưởi, cũ kỹ, lạc hậu, nghèo nàn dần tan biến. Màu da được đổi từ đen sang trắng, từ xanh tái sang hồng hào, con mắt nhỏ lại, híp sâu thăm thẳm nhìn vào thấy tham lam, thèm khát. Ông ta có cô em gái đẹp lắm. Cô vẫn nhớ một người chiến sĩ là đồng đội của anh mình. Khi ông về báo tin người chiến sĩ ấy trận cuối cùng trước cửa ngõ Sài Gòn đã bị thương nặng và đã hy sinh ở dải rừng trong hậu cứ, cô ấy đã suy sụp tưởng không qua nổi, mãi sau này mới chịu lấy anh chàng Bí thư huyện đoàn. Cậu em rể đẹp trai, hát hay, đàn giỏi đã tốt nghiệp trường báo chí Trung ương. Trong cuộc bầu bán chạy đua vào “Nhà trắng” thế lực của cậu em lại trội hơn ông anh rất nhiều, khả năng chiếc ghế Bí thư sẽ rơi vào tay cậu. Nhưng cái cậu em rể trẻ người non dạ ấy làm sao đọ nổi ông anh vợ quỷ kế đa đoan. Không hiểu bằng cách nào mà ông anh có trong tay tấm ảnh cậu em rể ôm cô thư ký không mảnh vải che thân. Mày láo thì cho mày chết.

Chuyện ấy mãi sau này cô thư ký đã thành chị dâu, trong cuộc cãi vã quyết liệt với chồng đã “lành làm gáo, vỡ làm môi” tông tốc kể ra người ta mới biết. Rồi bao chuyện tham nhũng, đấu đá, bao thủ đoạn bẩn thỉu đểu cáng bị dư luận phanh phui, người ta ghê tởm, khinh ghét gọi ông ta bằng nó, bằng thằng. Lúc đầu là một số bạn bè, một số cán bộ, rồi cả làng Đại An mà có khi cả huyện này đều gọi ông ta như thế. Vì thế chú hỏi thăm bác, thăm ông thì có mà đến đời mục thất.

- Lẽ nào người đó lại là anh Chánh? Bà nói đi, có đúng là anh Chánh không? chuyện bà kể có thật không?

- Thật hay không thì chú phải tự tìm hiểu. Chắc là chú ngạc nhiên lắm nhỉ? Mà ngạc nhiên là phải. Những người hai thứ tóc như tôi, như chú không mấy ai hiểu nổi vì sao người ta lại có thể biến đổi nhanh thế. Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm bảo “thế gian biến cải vũng lên đồi” chứ có bảo lòng người biến cải vũng lên đồi đâu mà con người lại thế. Thấy chú thật thà tôi vui miệng mà kể. Tôi vẫn đi lễ chùa không ai bảo con mẹ Lành nói láo bao giờ. Tin hay không là tuỳ chú. 

Tôi nhìn bà lão chăm chăm.

- Thế bà có phải là... là chị Lành không?... Trời ơi, bà là chị Lành. Bao năm nay em vẫn nhớ chị. Chị có nhận ra em không?

- Sao lại không? Không nhận ra sao tôi dám gọi chú là chú, lại dở hơi mà đem chuyện ông ấy ra mà kể? Dễ thường cũng ngoài năm chục còn gì?

- Vâng. Nếu thế tức là Cơm à quên Cam vẫn chờ em. Trời ơi, em cứ ngỡ là Cam đùa cợt, Cam chỉ động viên để em thanh thản mà ra trận. Ai ngờ. Em thật có lỗi. Nhưng tại sao...

- Sao giăng gì? Tất cả vì ông ấy. Chuyện của ông ấy chú bảo tôi không đau sao? Tôi biết ông ấy, chú và anh Đạo như ba anh em ruột. Tôi chưa phải là vợ anh Đạo nhưng tự thấy mình như chị dâu cả. Thấy ông ấy tôi như thấy anh Đạo. Nhìn thấy chú tôi muốn trào nước mắt. Nhưng tôi phải dè chừng. Nếu chú cũng như ông ấy thì sao?

- Đúng thế. Em có lỗi. Em có khác gì anh ấy! Nhưng em không ngờ chị lại mất lòng tin đến thế.

- Lòng tin ư? Lòng tin là cái gì rất cụ thể. Không có thứ lòng tin trừu tượng, lòng tin khẩu hiệu. Bác Hồ bảo năm 45 đất nước độc lập y như rằng ngày mùng 2 tháng 9 giữa Ba Đình Bác tuyên bố độc lập. Bác bảo “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào” y như rằng năm 73 Mỹ cút, 75 Nguỵ nhào. Bác bảo phải “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” là cả đời Bác không có gì cho riêng mình. Chứ cứ như bây giờ bảo chống tham nhũng, tham nhũng càng nhiều, bảo chống hàng giả, hàng giả nhiều như đất, bảo chống mại dâm hàng năm số gái mại dâm tăng lên chóng mặt. Tôi được biết khi bước chân vào thị trấn nghỉ mát QL, ai cũng thấy tấm pa-nô bằng xi măng rộng tới mấy chục mét vuông có hàng khẩu hiệu “Ma tuý và mại dâm là kẻ thù của tuổi trẻ” nhưng hơn hai trăm quán ăn và giải khát mỗi quán có ít nhất từ 4 đến 6 cô gái bán mình gần như công khai... Chú bảo tin thế nào? Cả làng gọi ông Cháo bằng thằng chỉ có tôi vẫn gọi ông ấy bằng ông, lúc thân tình thì bằng chú, là vì tôi vẫn còn quý, còn tin ông ấy và cũng còn hi vọng ông ấy sẽ hối hận cho dù quá muộn…

Có tiếng xe máy giật cục. Tôi quay lại

- Này, tôi nhìn ông quen lắm mà nghĩ không ra. Hôm nay họp BCH Hội cựu chiến binh mà lòng dạ cứ bồn chồn. Thế ông cùng đơn vị với thằng Cháo à?

Tôi đang buồn, đang hoang mang nên chẳng buồn trả lời.

- Ôi. Có phải Thước không? Ôi thằng Thước!

Ông lao tới vồ lấy tôi. Tích tắc tôi bỗng nhớ ra người Đại đội Phó xách B40 lao theo anh Chánh trong trận cuối cùng trước cửa ngõ Sài Gòn.

- Bình! Trời ơi anh Bình!

Anh Bình quay về phía chị Lành.

- Thôi, xin phép chị, em phải đưa nó về nhà, có bao nhiêu chuyện tức chết đi được.

Tới nhà tôi trách: Sao anh nỡ gọi anh ấy bằng thằng.

Bình lặng đi ấm ức:

- Đau lắm ông ạ. Ông biết rồi đấy. Mạng tôi là do ông ấy cứu. Tôi làm sao quên ơn, nhưng tôi không ngờ, Ông Đạo có sống lại cũng không thể ngờ. Cụ Ly Chính uỷ đã tới đây cũng thở dài, không ngờ. Ông thử nói xem. Có phải do cơ chế thị trường?

- Đừng. Đừng đổ oan cho cơ chế thị trường. 3/4 thế giới đều áp dụng cái cơ chế ấy, nó tạo ra của cải, tạo ra những tiến bộ khoa học kỹ thuật mà chỉ trong mơ mới có. Đương nhiên quy luật cạnh tranh là vô cùng khắc nghiệt. Nhưng nó không phải là thứ thuốc nhuộm xấu con người. Nó vô can, hoàn toàn vô can!

- Thế thì tại sao? Tại sao một tiểu đoàn trưởng tài hoa, dũng cảm, biết hy sinh vì đồng đội, khi bình yên lại lừa bỏ vợ, lừa em rể, em gái, đã loại bỏ không thương tiếc những người không ăn cánh, đã giàu lên vùn vụt, đã vô hiệu hoá hàng trăm lá đơn tố cáo, bỏ ngoài tai hàng ngàn lời khuyên chí lý chí tình, đã...

- Thôi, trước sau gì anh ấy cũng phải trả giá, cũng phải hối hận.

-Trả giá ư? Thì đã trả rồi đấy. Ông có biết khi anh ấy bỏ mẹ con chị Lan, mẹ con chị ấy thế nào không? Vì quá đau khổ, uất hận chị Lan ốm liệt chiếu, liệt giường phải đi Bạch Mai cấp cứu. Để sống, để chữa chạy cho mẹ, để nuôi các em, con Thuỷ phải bán mình khi chưa đầy 16 tuổi. Cũng may sau 10 năm bạc mệnh, nó gặp được chàng trai tử tế và năm mẹ con đã đứng vững. Nói như các nhà văn thì số phận đã mỉm cười với mẹ con chị. Nhưng chả lẽ số phận cũng hồ đồ mà mỉm cười với hắn. Hắn có hai thằng con trai đều đi tây, ba toà biệt thự và hạ cánh hết sức an toàn.

Từ ngoài cửa, bà Lành nhanh nhẹn bước vào. Vẫn cái giọng khào khào xa xăm như gió nhẹ:

- Ai bảo số phận hồ đồ, ai bảo ông ấy không phải trả giá? Chả lẽ gần hết cái làng Đại An này khinh bỉ gọi ông ấy bằng thằng, đến nỗi ông ấy không dám bén mảng về làng lại không phải là sự trả giá? Chả lẽ mấy toà biệt thự to đùng, quanh năm ngày tháng không ai thèm ngó tới, họp chi bộ, họp hưu người ta cố tình lảng tránh không ngồi chung bàn, có lần liên hoan người ta lừa cho ông ấy ngồi xuống chiếu rồi mỗi người viện lý do riêng đứng dậy hết để ông ta trơ lại như một gã mõ làng, lại không phải là sự trả giá? Còn nữa, cụ đồ danh tiếng lừng lẫy tự tử phải che mặt vì xấu hổ, con Thuỷ giống mẹ đẹp như tiên, phải bán mình nuôi mẹ, nuôi em chuyện ngày nay mà cứ như truyện nàng Kiều năm Gia Tĩnh... Bây giờ bốn đứa con gái không muốn nhìn mặt bố, hai thằng con trai học bên Tây không muốn về nước, chê Việt Nam đói nghèo, lạc hậu. Chừng ấy không đủ trả giá hay sao?

Bà lặng lẽ ngồi. Từ đôi mắt sóng gió cuộc đời đã hằn lên những nếp nhăn, đang rỉ ra thứ nước nhờ nhờ, mặn chát. Đó không phải là nước mắt mà là thứ nước tâm linh lắng đọng hờn giận, ngỡ ngàng.

Ruột gan tôi cồn cào. Tôi muốn lao ngay tới một trong ba toà biệt thự không ai thèm lai vãng kia để gặp anh. Tôi tin nhất định vẫn còn những con đường đưa anh trở lại là anh Chánh ngày xưa./.

                                                                                                                                                                                                 HOÀNG GIÁ