Trang chủ Văn học Truyện ngắn

CHIẾC KẸP TÓC HÌNH LÁ DỪA
09:00 | 11/07/2018

 

 

Truyện ngắn của Nguyễn Công Hảo

 

 Nếu ai hỏi ông sợ nhất điều gì? Ông sẵn sàng trả lời “Sự cô đơn”. Dẫu cuộc đời ông đã trải gần 80 năm, trừ quãng thời gian trong quân ngũ, có đồng đội nhưng lại là quãng thời gian ác liệt nhất với bất cứ ai đã trải qua. Sống, chết có lúc thời gian chỉ tính bằng giây. Khi con người sống với trăm nghìn nỗi đau, nỗi cô đơn thì dù có áp dụng phép cấp số nhân trong toán học vào nhân gian cũng chẳng có nghĩa lý gì. Ấy vậy mà ông lại có một “cấp số nhân không tưởng” trong quỹ thời gian cuối cuộc đời.

*

*                   *

Ông không nhớ chính xác tuổi, cứ ang áng năm nay cũng sấp sỉ bát tuần. Lý lịch khai đi bộ đội năm nào cũng chỉ là ang áng. Ông bị lạc từ bé nên không rõ quê quán tổ tông mình ở đâu. Khoảng năm, sáu tuổi ông cùng mấy đứa trẻ trong làng trốn bố mẹ rủ nhau theo mấy anh lớn tuổi đi trẩy hội Lim. Vừa đến hội thì lạc, chẳng nhớ đường về. Vừa khóc vừa cứ đi, đến chiều tối lạc lên đến thị xã (nay là thành phố) được một ông kéo xe tay đưa về nuôi dưỡng. Ông kéo xe tay(*) mà ông gọi bằng Cha cũng bị lạc từ bé, không rõ quê hương bản quán. Ngôi nhà ở ngoại ô ông đang ở chính là của người cha ấy, cả đời tích lũy mới mua được. Cha ông đã chết trong trận ném bom của giặc Mỹ, lúc đó ông còn đang chiến đấu ở mặt trận Tây Nguyên. Ông vẫn ân hận là không tìm được nơi yên phận của người cha dượng, mặc dù từ ngày được phục viên hưởng chế độ thương binh về ở ngôi nhà này ông đã cất công tìm hỏi nhiều người nhưng đều không có kết quả. Hôm ấy, cha ông đến nhà một người bạn chơi và bị trúng bom B52 của Mỹ oanh tạc ra miền Bắc ở một khu phố khác, nhiều người bị trúng bom làm gì còn xác. Khi vợ ông và thằng Vượng con ông, xế chiều mới biết đến tìm thì người ta bảo: “Bốc cả đất, thịt, xương chia cho hàng chục người đưa cả ra nghĩa địa rồi”. Khu nghĩa địa ấy cũng đã di dời đi từ hơn chục năm nay để đầu tư phát triển công nghiệp của tỉnh. Ông chỉ còn biết trách thân phận ông là thằng bất hiếu. Với cha thì vậy, đến vợ ông cũng không còn có thời gian để trả ân cho bà lão đã thay ông trong thời gian ông còn trong quân ngũ quán xuyến việc nhà, chăm sóc cha, nuôi thằng Vượng. Thế là cũng thấm thoắt hơn hai chục năm rồi bà lão mất vì căn bệnh hiểm nghèo ung thư của thế kỷ. Đã bao đêm một mình ông lặng lẽ, một mình cặm cụi “ôn cố tri tân”. Bà lão mất ông vẫn không có ý định có thêm bà nữa. Trận đánh cuối cùng vào cửa ngõ Sài Gòn năm bảy nhăm ông bị thương nặng. Hơn một năm nằm viện rồi được ra quân hưởng chế độ thương binh. Ông chỉ được một mình thằng Vượng. Còn may, thằng Vượng học xong  Đại học, ông nhờ được ông bạn cùng đơn vị cũ chuyển ngành làm ở Ban Tổ chức tỉnh ủy một tỉnh phía Nam xin việc cho và nhờ ông bảo ban giúp đỡ. Nhưng cũng từ đó bố con lại xa cách. Được sự giúp đỡ của ông bạn nên thằng Vượng tiến bộ khá nhanh. Nhiều lần ông và cả ông bạn của ông đều muốn Vượng chuyển vùng ra Bắc nhưng nó không chịu, nghe nói khóa tới nó được quy hoạch giữ một chức vụ trưởng ngành quan trọng của tỉnh. Vì thế nó đề nghị ông bán ngôi nhà, vườn tược đang ở, để vào với vợ chồng nó và các cháu. Nó bảo nó không cần tiền, nhưng ngoài đó không còn ai thân thích, bán nhà vào với vợ chồng nó, ông cứ gửi tiết kiệm để ông chủ động chi tiêu, tránh cái tự ái của người già. Nó nghĩ thế cũng phải. Lúc đầu ông chần chừ chưa quyết và muốn về quê bà lão cho có quê hương bản quán, nhưng ở đấy cũng chẳng còn ai ruột thịt. Họ hàng thân thích của bà lão cũng di cư lên Tây Bắc mấy chục năm nay rồi. Cuối cùng ông thuận theo ý thằng Vượng, bán ngôi nhà quá nhiều tình nghĩa đối với ông. Bởi lẽ ông không thể cô đơn ở cái tuổi này được nữa. Những vết thương cũ hành hạ ông nhiều hơn những khi trái gió, trở trời. Đơn giản thế thôi, ông chấp nhận cô đơn để thằng Vượng con ông được thanh thản, mặc dù bạn bè kể cả thằng Vượng cũng nhiều lần có ý định khuyên ông đưa một người đàn bà khác về chung sống. “Con nuôi cha, không bằng bà nuôi ông”. Có lý cả đấy, nhưng ông có lý của ông “Mấy đời bánh đúc có xương…” rồi còn con ông, con tôi. Không phải ông sợ khó khăn khổ cực khi có thêm gánh nặng vợ con mà ông sợ đời con cháu ông lại theo quy luật của ông, sống thiếu người thân, họ hàng thì thật là bất hạnh. Chẳng phải có thằng Vượng đấy, nhưng nó vẫn tha phương cầu thực đấy thôi, có phải ở đúng quê hương bản quán đâu.

Rao bán nhà đến mấy tháng hôm nay mới có người đến hỏi mua. Một ông Việt kiều đi cùng là một phụ nữ quý phái tuổi trung niên. Xã giao, chào hỏi xong, ông Việt kiều tự giới thiệu:

- Tôi là HenRi Cường. Còn đây cháu ruột tôi Huỳnh Thịnh Hoa, Giám đốc Công ty Dược thuộc Tổng công ty Dược phẩm Gô Lốt tại Pháp đang được phê duyệt đầu tư tại quê hương của ông ở Khu Công nghiệp II, cách đây nửa cây số. Khu vườn này khá rộng chúng tôi ước tính khoảng hơn 3 sào đủ điều kiện chúng tôi mua để làm Văn phòng công ty, chúng tôi có thể trả ông gấp 3 lần so với yêu cầu.

- Tôi là Thịnh, tôi đâu cần tiền, cứ bằng giá thị trường là tôi chấp thuận, ép giá ông bà để mang tiếng với đời, chẳng qua cuối đời thằng con tôi nó không về, tôi đứt ruột phải bán để vào ở với nó. Tôi già rồi, đành phải trông cậy vào con cháu.

Ông HenRi Cường nhìn kỹ ông Thịnh một lúc lâu rồi mở vali lấy ra một chiếc bình tông:

- Tôi hiểu tâm tình ông, tôi cũng như ông chúng ta sắp đến ngưỡng thiên cổ rồi - ông Cường giơ chiếc bình tông rồi hỏi: Tôi có và đã giữ chiếc bình tông này hơn 40 năm nay của một chiến sĩ giải phóng quân trong thời gian tham chiến ở mặt trận Núi Chéo - Gò Loi năm 1974. Trên chiếc bình tông có khắc tên “Thịnh - Kinh Bắc - Bắc Ninh - D8, F3SV”. Tôi ngờ ngợ có thể ông là chủ nhân của nó.

Ông Thịnh đón chiếc bình tông xem kỹ, rồi sửng sốt:

- Sao ông lại có kỷ vật này. Đúng là của tôi hồi còn ở Sư đoàn 3 Sao Vàng.

Ông HenRi Cường ôm chầm lấy ông Thịnh:

- Tôi tìm thấy ân nhân của tôi đây rồi. Ông là một người nhân đức tuyệt vời. Số là thế này: Tôi là ngụy quân thuộc Liên đội bảo an đóng quân ở Núi Chéo thời đấy. Chắc ông còn nhớ khu vực ấy lúc đó là chiến trường quan trọng của cả bên ngụy quân chúng tôi do Mỹ bảo trợ và bên quân giải phóng các ông. Chúng tôi được sự yểm trợ tối đa của xe tăng, máy bay; pháo binh Mỹ vãi đạn suốt ngày để cho sư đoàn ngụy quân chúng tôi tấn công liên tục quyết giành cao điểm 174-Núi Chéo do Tiểu đoàn 8, Sư đoàn 3-Sao Vàng quân giải phóng các ông chốt giữ. Ông từng tham gia các trận đánh ở đây chắc ông còn nhớ hai bên giằng co quyết liệt, dẫn đến trận đánh giáp lá cà còn ám ảnh tôi suốt cuộc đời. Trận đánh giáp lá cà ấy, trong tay tôi là khẩu tiểu liên tiến đến giao thông hào quân giải phóng các ông, tôi xả đạn liên tiếp theo bản năng, cũng chẳng biết phía bên tôi, phía bên ông ai còn, ai mất. Tôi bị trúng đạn ở cả hai chân, máu chảy ướt đẫm cả quần, súng lại hết đạn, đành nằm chờ chết.

Trận chiến đấu vừa dứt, tôi thoáng thấy một chiến sĩ giải phóng quân từ cuối giao thông hào chạy về gần chỗ tôi và hô lớn:

- Địch rút hết rồi, còn đồng chí nào sống sót hoặc bị thương không? Tiến ơi, Hội ơi… các đồng chí còn không? Anh ta gọi tên nhiều người tôi không nhớ chính xác, đại loại là như vậy - Dừng lại một chút, nhấp một ngụm trà, rồi ông kể tiếp: “Im lặng, vừa mới còn đất động, trời rung vì bom pháo, tiếng đạn. Lúc ấy có một khoảng khắc im lặng đến rợn người, sau tiếng gọi của người chiến sĩ quân giải phóng.

- Thế là xóa sổ hết rồi - Anh ta lẩm bẩm và mệt mỏi dựa lưng vào thành hào mặt đen xạm đầy khói súng và bụi đất, rút bình tông nước tu ừng ực.

Tôi nằm im nín thở, vãi cả ra quần, mồ hôi đầm đìa, nhưng vết thương nó không cho tôi im lặng, tiếng rên nhẹ phát ra. Anh ta choàng đứng dậy:

- Ai đấy, ta hay địch đây?

Khi phát hiện ra tôi mặc bộ quần áo rằn ri, anh ta giương khẩu AK chĩa về phía tôi. Thế là hết “Lạy Chúa, lạy cha mẹ…”, anh ta lấy chân hất mặt tôi ngửa ra nhìn chằm chằm.

- Hóa ra mày là thằng ngụy, giết mày cho bẩn tay, dù sao mày cũng cùng dân tộc ta cả, cho mày sống để có ngày tự sám hối.

Nói rồi anh ta vứt cho tôi cái bình tông còn ít nước và một phong lương khô, rồi bỏ đi. Tôi hồi tỉnh từ ít nước quý hiếm ấy và lết được vào rừng sống được nhờ phong lương khô. Tôi giữ chiếc bình tông trong suốt cuộc đời làm kỷ niệm và hẹn thề có ngày tìm được ân nhân để báo đáp. Người chiến sĩ giải phóng quân năm nào vứt cho tôi chiếc bình này không ai khác chính là ông hôm nay. Thật là trời có mắt.”

Ông Thịnh cũng như được trở lại chiến trận năm xưa qua lời kể của ông HenRi Cường, ông đặt tay lên vai ông Cường để tỏ rõ sự thân mật như hai người bạn lâu ngày mới gặp nhau và nói với ông Cường:

- Nếu không vì cuộc chiến giành lại độc lập tự do cho đất nước thì làm sao tôi gặp ông trong hoàn cảnh ấy. Chúng ta đều là con người cả mà, tôi còn ân hận hơn ông, cho đến giờ còn chưa báo đáp được ân nhân ở quê ông, cũng đã từng cứu sống tôi trong một hoàn cảnh đặc biệt. Mà sao ông lại tìm được tôi hay là ngẫu nhiên ở vụ mua bán đất này?

- Tất nhiên mua đất của ông là ngẫu nhiên và biết chắc ông là ân nhân nên tôi sẵn sàng trả giá gấp ba, bốn lần số tiền ông muốn bán, cũng là sự báo đáp ơn ông - ông Cường nối tiếp câu chuyện và đột ngột rút từ trong túi áo ra một cái lược bằng thép máy bay: Chiếc lược này ông đã từng sở hữu, rồi tặng cho một người?

Ông Thịnh tay run run đón chiếc lược, vẫn bóng nguyên màu đuyra, chỉ hơi mòn dòng chữ “Thịnh - Kinh Bắc - Bắc Ninh”: Ông có chiếc lược này từ đâu?

- Từ Ba Gấm, em gái ruột tôi. Trước khi từ giã cõi đời, bả đã kể lại tất cả tôi mới biết.

- Trời ơi! Vậy không phải là em đã hy sinh sao? Dân ấp Gò Loi đã xác nhận với tôi là Ba Gấm hy sinh, còn má Ba Gấm bỏ đi đâu không rõ sau giải phóng 30/4 được ít ngày cơ mà…

… Lần ông Thịnh bị thương được ra quân là lần thứ hai, còn lần thứ nhất trong một đêm đội trinh sát do ông phụ trách đơn vị cử đi trinh sát cho trận đánh quyết tử ở Núi Chéo - Gò Loi, tỉnh Bình Định. Ở đấy ông còn có một kỷ niệm có lẽ đến lúc về với tổ tiên mới không còn day dứt. Lúc bấy giờ khu vực này là chiến trường quan trọng của trục đường nối khu vực Bắc Bình Định với Gia Lai. Sau hiệp định PaRi cả địch và ta đều quyết liệt giành vị trí trọng điểm này. Đêm ấy, đội trinh sát của ông đã làm xong nhiệm vụ, gặp một toán biệt kích. Là Đại đội phó trực tiếp chỉ huy, ông quyết định phân công hai đồng chí cùng ông ở lại đánh lạc hướng để số anh em còn lại kịp về đơn vị báo cáo kết quả với cấp trên. Trận đánh không cân sức, cả ba đều trúng đạn, sau này ông mới biết hai đồng chí ở lại cùng ông đã hy sinh, còn ông bị thương cũng khá nặng chủ yếu ở phần mềm, 2 viên đạn xuyên qua đùi trái mất máu nhiều nên ngất đi. Đến khi mơ màng tỉnh lại thấy hình như đang ở dưới một căn hầm, một ngọn đèn chai thắp bằng dầu thấp thoáng, chắc đang là đêm tối. Nửa tỉnh, nửa mê, ông cảm nhận có một mùi thơm khó tả, lâu lắm rồi ông mới thấy mùi hương lạ, thoang thoảng mùi sữa mẹ. Chắc là mình đã hy sinh. Mẹ ơi, con đã gặp mẹ dưới suối vàng, dòng sữa mẹ ngày xưa đang trở lại tắm mát linh hồn con. Thân hình mẹ đang ôm ấp che chở cho đứa con đã mất mẹ từ lúc còn nhỏ dại… Ôi sao cái chân trái của con nó đau, nó nặng thế này? Ông từ từ thoát khỏi cơn mê man. Phía cửa hầm tiếng gió rừng vi vút như tiếng sáo ngân nga. Nghe mơ hồ tiếng chó sủa dưới ấp làng, tiếng nước chảy róc rách từ con suối chắc không xa căn hầm là mấy. Hình như có một phụ nữ nằm bên cạnh, ấp một bên trái đào ở ngực vào miệng ông.

Biết người thương binh đã tỉnh, người phụ nữ ngồi bật dậy vội vàng lấy áo che ngực, ngượng ngùng. Chị khẽ reo lên:

- Thế là tốt rồi, anh đã tỉnh, em lo quá. Vết thương anh không nặng, nhưng mất máu nhiều, anh đã mê man, nửa tỉnh, nửa mê ba ngày đêm rồi đấy.

Ông bàng hoàng, véo một cái thật mạnh vào má mới định thần mình vẫn sống, nhưng vẫn chưa biết mình đang ở đâu và sao lại có người phụ nữ ở cạnh ông? Cô ta đã dùng bầu sữa của mình mớm cho ông ăn như người mẹ nuôi con. Có lẽ mình yếu quá, mấp máy môi… ông khẽ hỏi:

- Chị, chị, sao chị lại…

Người phụ nữ vẫn có vẻ rất ngượng ngùng, ông lờ mờ nhận ra điều ấy, hình ảnh qua đôi tay giữ ngực, qua đôi má đỏ lựng của chị đã nói lên điều đó. Chị ngồi xuống cạnh ông rồi nói rõ sự tình:

- Em được giao phụ trách ở chốt liên lạc này cùng với một đồng chí nữa, nhưng chị ấy bị sốt rét đã phải vào trạm quân y trên cứ An toàn gần tuần nay. Cách đây ba ngày em đưa một đoàn bộ đội của ta được bổ sung vào chiến trường lên cứ An toàn, khi trở về thấy anh bị thương đang vục đầu ở bờ suối, mê man bất tỉnh liền đưa anh về căn hầm bí mật này để chữa trị. May là anh vẫn ở trên bờ, chưa uống được nước suối, nếu không chết vì mất máu cũng chết đuối chớ bộ. Đổ cháo cho anh không thấy trôi, không biết làm cách nào, chẳng nhẽ để anh chết. Thật là trong cái khó, ló cái khôn em còn đang nuôi con và cũng phải liều may ra còn cứu được, chớ anh yếu lắm. Anh tỉnh là tốt rồi.

Lúc này ông mới tỉnh hẳn và có dịp nhìn kỹ ân nhân qua ánh đèn dầu thấp thoáng. Một phụ nữ khá xinh đẹp, kém ông chừng chục tuổi. Cô ta vẫn còn ngượng, qua cách nói, qua hình ảnh bàn tay ấp chặt trên ngực khi lúc ông mới tỉnh, ông đã hiểu một phần, dòng sữa của cô đã cứu sống ông, nước mắt tuôn trào nơi khóe mắt, ông khẽ hỏi:

- Qua giọng nói của chị, biết là chị quê ở đây rồi. Thật không biết gì đền đáp ân nhân, à mà cháu của chị đâu? Chị còn phải nuôi cháu trong hoàn cảnh khó khăn này, mà tôi lại… Chưa nói hết, ông không ngờ chị òa khóc:

- Thằng cu nhà em vừa cúng thôi nôi đầy năm được hơn tháng nay, em gửi lại má em trông giùm rồi báo cáo đơn vị cho tiếp tục công tác và được phân về chốt liên lạc này, gần nhà để kết hợp chăm sóc thằng cu. Ấp nhà em cách đây gần hai cây số, vài ba ngày em lại về một đôi lần. Ông xã nhà em cũng là quân giải phóng như anh, nhưng thật không may, ảnh hy sinh khi em mới có thai thằng cu nhà em được 6 tháng. Ảnh hy sinh trong hoàn cảnh đang đưa thương binh về cứ an toàn thì gặp bọn biệt kích. Cũng chỉ cách đây mấy quả đồi mà hôm được tin ảnh mất em cũng có đến được đâu, lúc ấy phải đưa mấy đoàn bộ đội về cứ lại bụng mang, dạ chửa. Cả đơn vị và gia đình không cho đi vì sợ ảnh hưởng đến thằng cu và sợ cả biệt kích nữa. Khổ thế đấy anh ạ, vợ chồng đâu có gần nhau được nhiều. Vậy mà khi mất lại không được gặp, em khóc ròng suốt mấy tháng. Đến khi sinh thằng cu mới nguôi ngoai... Dạ xin lỗi anh, cứ mải chuyện quên mất từ sáng tới giờ anh mới ăn được chút ít. Đừng kêu em là chị, em ít tuổi hơn anh nhiều là cái chắc, em là Gấm, Huỳnh Thị Ba Gấm ở ấp Gò Loi. Mấy ngày nay hết gạo, em đã phải ăn cháo củ mài, được cái em tốt sữa…

Đột nhiên chị ngừng nói, đôi má ửng hồng chắc là chợt nhớ ra là đang nói chuyện với người đàn ông lạ. Còn ông cũng lúng túng vô cùng, thật là trớ trêu, nỡ lòng nào ông lại đi vắt sức của người phụ nữ vừa phải nuôi con lại trong hoàn cảnh khó khăn đói khát. Ông tỏ thái độ dứt khoát:

- Gấm ơi! Anh không thể làm thế được, thà anh chịu chết chứ vắt kiệt sức của em thế này anh đành lòng sao được - Ông chuyển cách xưng hô từ gọi là chị sang em: Anh là Thịnh quê vùng Kinh Bắc có làn điệu dân ca quan họ mượt mà. Hiện là Đại đội phó, Đại đội 1 chủ lực, Tiểu đoàn 8, Sư 3-Sao Vàng.

Gấm có vẻ đã lấy lại được bình tĩnh vẫn biết ông còn yếu, trong điều kiện thuốc bệnh, thuốc bổ không có, chỉ có ăn là số một cho sức khỏe hiện tại của ông, nếu không ăn, không có sức sẽ khó lòng qua khỏi lưỡi hái tử thần, chị nói nhẹ nhàng dỗ dành ông như một đứa trẻ: Đành rằng chiến tranh phải có mất mát, nhưng anh không thể chết khi vẫn còn có em đang vinh hạnh được chăm sóc anh. Anh đừng nghĩ quẩn, anh còn có gia đình vợ con ngoài Bắc. Chồng em hy sinh em đã thấm nỗi đau mất mát lắm rồi. Anh phải ngoan ngoãn nghe em, đừng ngại, mà anh cũng đã …tự giác ăn… mấy hôm nay rồi còn gì? Em không ngại, anh còn e nỗi gì? Cứu được người là “phúc đẳng hà sa” Phật từng dạy thế mà. Anh phải cố lên cho có sức, sáng mai em tranh thủ về ấp lấy gạo, tiện thể qua hộp thư giao liên xem có đoàn nào vào cứ An toàn em gửi anh vào đó chữa trị, chứ vết thương nghe chừng nhiễm trùng nặng rồi đó - Nói rồi, Gấm vạch áo ghé một bên trái đào vào miệng ông: Nào ngoan đi anh. Gạo hết mấy hôm nay, củ mài cũng vừa đủ bữa tối em đã ăn hết rồi.

Sao ông trời bắt ông khổ thế này? Một phụ nữ chắt chiu cho ông nguồn sống, từ nguồn sống ấy nó làm trỗi dậy sinh lực của người đàn ông tuổi đương thời sung sức. Mê man bất tỉnh chả nói, còn thực tại, làm sao ông chịu nổi. Thôi cứ liều đã. Cần phải sống để tiếp tục được chiến đấu, chỉ sợ hai thái cực nó đày đọa, nhất là Gấm đang ở độ chín của người phụ nữ. Quả thực hình như phía cực âm cũng bị đè nén, bờ vai em rung nhẹ, áo em rịn rịn chút mồ hôi. Gấm áp chặt thân hình vào ông hơn, nghe như có tiếng em thở dài nhè nhẹ… Hay là tiếng gió lọt vào. Lại có tiếng dế kêu trong đêm. Bom đạn ác liệt thế liệu có còn chú dế nào tồn tại. Ông muốn tiếp tục được mê man, nửa tỉnh, nửa mê để quên đi thực tại. Nhưng càng muốn mê man lại càng tỉnh, tiếng gió đêm của rừng càng da diết, lẫn trong tiếng sáo gió rừng là tiếng suối reo. Mệt mỏi từ vết thương không còn nữa, đầu óc ông tỉnh táo hơn. Ông nhớ đến hình ảnh người vợ chen lấn đám đông người đưa tiễn đến trước cửa tàu đỗ trên sân ga, chẳng nói được câu gì, đỏ mặt sửa lại mái tóc bị xổ tuột khi chen lấn: “Đi mạnh khỏe nhé, thằng Vượng nó lớn em cho nó đi bộ đội như anh”. Rồi òa khóc nức nở. “Khổ lắm vắt mũi chưa sạch bao giờ đi bộ đội được như bố. Thôi về đi, vài năm nữa anh về mà…”

 Không phải tiếng dế, chính là tiếng Ba Gấm khóc. Em khóc, tiếng khóc nhẹ, em khóc vì hoàn cảnh hiện tại hay còn nỗi niềm nào khác? Em khóc trong mơ màng, em thấy chồng ở bờ suối bên kia. Hình ảnh anh cầm khẩu AK quét cả một băng đạn vào nhóm biệt kích, một viên đạn của kẻ địch bắn trúng ngực anh, chới với anh ngã xuống “Nhớ mần công tác cho giỏi Gấm à! Sinh con trai đặt tên nó là Sơn, là Giang. Giang Sơn tổ quốc đất Việt con rồng cháu tiên đấy…”. Có cái gì đó làm em cộm rộm trong lòng. Em khóc, trong tiếng thổn thức, em thì thầm: “Anh Thịnh, em biết, anh ở Bắc, chắc đã có vợ”.

Miệng ông tuột khỏi trái đào đầu óc mông lung mơ màng vẫn nghe tiếng Ba Gấm nhè nhẹ: “Anh… anh yêu em đi… vợ của anh đấy. Mai anh đi rồi, em sợ nỗi cô đơn lắm và cũng chẳng biết sẽ chết lúc nào…”

Thật bất ngờ, ông chưa biết xử trí thế nào đã thấy cả người em đè chặt lên ông. Hai tấm thân bó vào nhau và truyền hơi ấm trong lặng lẽ…

Thế là qua một đêm tràn đầy hạnh phúc của anh thương binh và người giữ chốt giao liên. Trời giành cho họ một đêm yên tĩnh không có tiếng pháo, tiếng bom, không có biệt kích. Có lẽ đánh nhau mấy ngày ác liệt cả hai bên đều nghỉ để củng cố lực lượng, thỉnh thoảng trong đêm có lúc lóe lên những vầng sáng của mấy quả pháo dù cảnh giới. Ở dưới hầm họ đâu nhìn thấy, chỉ nghe thoang thoảng tiếng Nai rừng đùa rỡn, gọi bầy; tiếng chim “Tu huýt” gọi nhau hẹn hò... Họ xứng đáng được hưởng một đêm như thế.

Ông tỉnh dậy đã gần trưa, là do ông phỏng đoán qua ánh nắng lọt qua kẽ hầm. Vừa lúc Gấm mở cửa xuống hầm:

- Sáng dậy thấy anh ngủ ngon em không đánh thức, em vừa về ấp lấy gạo và những thứ cần thiết để thay băng cho vết thương của anh, Má em nấu nồi cháo gà bằng nước cốt dừa để bồi dưỡng cho anh đây nè. Hết ngượng nhé - Gấm cười, má em hồng ửng cùng với đôi lúm đồng tiền ban ngày nhìn rõ lại càng duyên: Ghét anh ghê lắm, người thế mà… Gấm bỏ lửng rồi lại cười: Trên đường về ấp em cứ nghĩ quẩn nhỡ anh làm sao thì em ân hận lắm. Anh đang bệnh mà em lại ép anh. Giờ thấy anh vẫn bình thường là em mừng rồi. Má còn gửi cho anh mấy quả dừa anh uống cho mát.

- Tha thứ cho anh nhé, lúc ấy sao anh lại mụ mẫm đến vậy.

Gấm lấy ngón trỏ gí vào trán ông, lại cười, lại nói:

- Ngoan thế mới là anh hai Thịnh, con một hở, con một là anh hai rồi. Hết chiến tranh nếu còn sống nhớ về Gò Loi tìm em nớ. À mà sáng mai có đoàn vô cứ An toàn, phải xa anh rồi.

Ông lục túi lấy ra một chiếc lược chế từ vỏ máy bay có khắc chữ “Thịnh - Kinh Bắc - Bắc Ninh”:

- Em cầm chiếc lược này để giữ làm kỷ niệm. Anh không bao giờ quên sự chăm sóc chu đáo và những kỷ niệm tuyệt vời em giành cho anh cả sự sống và tình yêu.

Gấm cũng tháo chiếc kẹp tóc trao cho ông:

- Anh giữ cái này coi như lúc nào cũng có em bên cạnh, em tự chế bằng vỏ gáo dừa đấy, làm vội nên hình lá dừa không được đẹp lắm. Dừa là biểu tượng Bình Định quê em đó. Còn sống em sẽ chờ anh, đừng cho em là dễ dãi và đừng quên…

Bỗng tiếng bom lại dậy lên khu rừng phía trước. Nghe lẫn tiếng bom nổ ầm ầm là tiếng rít của pháo, những tràng súng máy nổ ròn rã. Gấm ra khỏi cửa hầm nghe ngóng, lát sau xuống hầm bảo với ông: Có mấy ngày được yên đâu anh, chúng em có con đường con gái giao liên riêng, rất an toàn, kể cả khu vực này. Kệ nó, hiện tại nơi đây vẫn là bầu trời của riêng anh và em.

Hôm sau ông được đưa ra cứ An toàn rồi vào bệnh xá Sư đoàn chữa chạy, hơn một tháng sau ra viện. Tiếp tục tham gia các trận đánh giải phóng Tây Nguyên, Sài Gòn; có mấy lần ông gửi thư cho em qua đường giao liên. Chiến dịch giải phóng miền Nam đã vào giai đoạn quyết liệt, chắc gì em đã nhận được. Trận đánh quyết liệt ở ngã tư Hàng Xanh cửa ngõ Sài Gòn sáng 30 tháng 4 ông lại bị thương, còn nặng hơn lần gặp Ba Gấm, may còn sống nên được ra quân. Trước khi phục viên ra miền Bắc ông trở lại Gò Loi tìm Gấm, nhưng cả ấp nói “hình như bả đã hy sinh, còn Má bả mang thằng cháu đi đâu không rõ từ sau giải phóng”. Một nỗi buồn mênh mang, có lẽ nỗi buồn này ám ảnh ông và cũng là lý do khi bà cả mất ông không muốn có người đàn bà nào trên đời này ngự trị tâm hồn ông thêm nữa.

*

*                *

Sau khi nhận chiếc lược và biết Ba Gấm là em ruột ông Cường. Sau một lúc bần thần, ông Thịnh mới trả lời ông Cường, khóe mắt ông còn ngân ngấn nước mắt:

- Thật là trái đất tròn, ai ngờ ông là anh ruột của Ba Gấm. Tôi thật có lỗi lớn với Ba Gấm. Ông có thể cho tôi biết hoàn cảnh Ba Gấm giờ ra sao?

- Ba! Đúng là ba của con đây rồi - Nãy giờ người phụ nữ chăm chú nghe câu chuyện của hai ông, bỗng chốc quỳ sụp dưới chân ông Thịnh và òa khóc: Hơn 40 năm nay con mới biết mặt ba. Hãy tha lỗi cho con ba nhé. Má đã kể về ba cho con biết từ bé. Không có ảnh ba, chỉ có chiếc lược này. Trước khi mất má bảo cứ đến vùng dân ca quan họ mà tìm, nghe nói có 49 làng. Con ráng đi hết may ra tìm được. Nếu gặp ba bảo với ba là “cái kẹp tóc má tặng cho ba, còn không”? Nếu ba đã chết thì thắp mấy tuần nhang cho má. Nếu gặp má cả còn sống, bảo bả hãy tha thứ cho má.

Hết sức bất ngờ ông Thịnh như không tin vào đôi tai của mình khi nghe người phụ nữ nói những lời vừa rồi. Con của ông và Ba Gấm? Thế là ông lại mang một tội nữa rất lớn với đời là bỏ rơi con cái.

Ông Cường giải thích rõ hơn: Huỳnh Thịnh Hoa, con của Ba Gấm, cháu ruột tôi chính là con đẻ của ông đó.

Ông Thịnh còn đang phân vân từ bất ngờ nọ đến bất ngờ kia, chưa biết xử trí thế nào; ông đỡ Hoa đứng dậy: Má con mất hồi nào? Cái kẹp tóc ba vẫn giữ để trong cái hộp trên bàn thờ. Con đến bàn thờ thắp hương tổ tiên và cho má con đi.

Trong khi Hoa ra bàn thờ thắp hương. Ông Cường nối tiếp câu chuyện: Ba Gấm mất cách đây 5 năm và theo nguyện vọng được an táng đúng vị trí căn hầm bả đã gặp ông hồi ấy. Khi tôi bị thương được ông tha cho hồi ấy, tỉnh lại tôi được đồng đội tìm thấy đưa về Quy Nhơn chữa chạy. Giải phóng 30 tháng 4 năm 1975 được hơn tuần Má tôi và Ba Gấm cùng các cháu xuống Quy Nhơn tìm tôi, Má tôi sợ liên lụy vì tôi là ngụy quân, rồi định cư ở Quy Nhơn. Ba tôi mất sớm, trong một tai nạn tìm trầm hương trên núi. Hai năm sau giải phóng tôi di tản sang Pháp, rồi mở công ty Dược Gô Lốt, thực ra là lấy tên ấp Gò Loi để làm kỷ niệm của quê hương, hơn chục năm sau Công ty của tôi ăn nên làm ra, uy tín rất lớn, tầm cỡ thứ ba ở Pháp và châu Âu, nên đón Má tôi và cả gia đình Ba Gấm sang Pháp. Nói thiệt với ông tôi bị thương đận ấy mất cả của quý nên không lấy vợ và coi hai cháu của Ba Gấm là con ruột. Hiện nay Sơn anh cùng mẹ khác cha với cháu Hoa đang đảm nhận chức vụ Giám đốc Tổng Công ty thay tôi, còn chồng của cháu Hoa tôi cho đầu tư mở rộng công ty về Bình Định quê tôi, đang đảm nhận Giám đốc công ty trực thuộc Tổng công ty Gô Lốt đã hoạt động được 5 năm nay. Ba Gấm cũng về nước dịp vợ chồng cháu Hoa về Bình Định mở công ty rồi bị cảm mất. Còn cháu Hoa tôi giao cho cháu đảm nhận Giám đốc một công ty trực thuộc, cháu bảo tôi cho cháu về Bắc Ninh đầu tư, tôi đồng tình cao vì tôi biết cháu nó muốn đi tìm ba nó.

Hoa đã vui vẻ trở lại vừa nghe chuyện, vừa ngắm nhìn ông Thịnh không rời mắt và thêm vào câu chuyện: Gặp ba, thấy ba khỏe là con mừng rồi. Dưới suối vàng chắc má vui lắm, vì khi về nước má tìm được mộ ba của anh Sơn đã đưa về nghĩa trang liệt sĩ ở quê. Má chỉ ân hận chưa tìm được quê nội cho con vì thế con quyết định đưa công ty về đầu tư ở Bắc Ninh. Bác Cường đồng tình cao vì bác cũng rất muốn tìm một người ở Kinh Bắc, trong linh tính bác cho rằng người bác muốn tìm có thể cũng chính là ba, vì từ hai kỷ vật chiếc bình tông và chiếc lược đã nói nên điều đó. Thật may tuần trước xem Tivi về chương trình gặp gỡ cựu chiến binh thấy ba trả lời phỏng vấn con và bác Cường mới dự đoán có thể ba là người hai bác cháu cần tìm. Thật không ngờ lại trùng hợp vào lúc ba bán đất.

- Thật là ông Trời có mắt, tôi đâu nghĩ có ngày hôm nay. Bán chác gì, đất của con đấy, con có quyền được hưởng, ba có muốn bán đâu, vì anh Vượng con không ra Bắc, ba đành lòng mới phải bán. Ba đã bỏ rơi má, bỏ rơi con bao năm lỗi ấy còn lớn lắm. Cảm ơn ông Cường, không có ông tôi đâu có ngày hôm nay. Hoa nè con! Để ba gọi điện cho vợ chồng anh Vượng bay ra ngay liên hoan mừng ngày đoàn viên này. À mà anh con cũng đang công tác ở Bình Định đấy.

- Dạ! Thế thì mừng quá rồi ba ơi, con cũng điện ngay cho nhà con liên hệ với anh Vượng để cùng ra.

Ông Cường cũng hồ hởi: Tôi cũng điện cho Tổng giám đốc Sơn thu xếp về nước để mừng cuộc hội ngộ đoàn viên này. Tôi tin ông Thịnh cũng nhận cháu Sơn là con. Hai Vượng, Ba Sơn, Út Hoa. Xin chúc mừng ông Thịnh.

- Hoan hô bác Cường - Hoa hết sức phấn chấn, vừa vỗ tay vừa nói: Con cũng cảm ơn ba đã giành những gì tốt đẹp nhất cho con. Ba còn, nghĩa là tài sản vô giá của con, của các anh con vẫn còn, không gì  mua và đánh đổi được. Má, má ơi con đã tìm được ba rồi má ơi!

Bất chợt cả ba người đều vỗ tay. Với ông Thịnh có lẽ lâu lắm rồi mới trút bỏ nỗi tâm tư trầm mặc. Như cải tử hoàn sinh, ông trẻ ra dễ đến chục tuổi./.