Trang chủ Văn học Truyện ngắn

CHA TÔI
14:39 | 30/08/2018

Cha tôi “ra đi” từ hồi tiền khởi nghĩa. Lớn lên tôi luôn day dứt: “vì sao cha tôi bị bắt, bị giam cầm đến chết trong nhà lao của thực dân Pháp?”.

Tôi sinh ra ở một vùng quê thuộc phủ Từ Sơn. Từ xưa, quê tôi vẫn luôn nổi tiếng về nghề nấu rượu với đặc sản rượu cẩm thơm ngon, ai đã uống một lần còn nhớ mãi. Bên lũy tre xanh êm đềm của làng quê tôi dưới chế độ thực dân, phong kiến đã diễn ra bao thảm cảnh. Người dân vô tội bị bọn cường hào ức hiếp, bao gia đình tan nát chia lìa. Gia đình tôi cũng trong cảnh ngộ đó.

Nhà tôi nghèo lắm. Tài sản duy nhất chỉ có ba gian nhà tranh siêu vẹo và ba sào ruộng trũng ở cánh đồng xa giáp làng Tam Sơn. Bà và mẹ tôi quanh năm lam lũ làm mướn mà vẫn không đủ ăn. Cha tôi phải đi làm thợ từ năm 14 tuổi. Khi còn sống, bà tôi đã kể cho tôi nghe về cha tôi:

- Cha cháu từ bé vốn hiền lành, thật thà. Một lần đi chơi nhặt được con dao dựa mới, có người hỏi xin liền cho ngay. Lớn lên, cha cháu chẳng bao giờ rượu chè, cờ bạc, lại chịu khó, hay làm. Trong xóm có ông Nguyệt làm thợ cả sơn mài ở Đình Bảng rất mến tính cha cháu nên đã cho đi làm phó nhỏ. Năm cha cháu 28 tuổi, khác với thời gian trước, ông thường đi làm về muộn, nhiều đêm trằn trọc, suy tính điều gì đó. Một hôm, quá nửa đêm cha cháu mới về. Bà gặng hỏi, cha cháu chỉ im lặng, thay quần áo rồi đi nằm. Trời rạng sáng, tên quản xã Tư Sơn dẫn bọn tay sai ập vào nhà lục soát, không tìm thấy gì, chúng hậm hực:

- Mẹ kiếp! Rồi mày sẽ biết tay ông.

Mấy hôm sau, cha cháu đau mắt nặng không đi làm. Tưởng thế là thoát nạn. Nào ngờ, đêm 27 tháng Chạp. Trời tối như mực, cả nhà ngủ say. Mới tinh mơ, cha cháu vừa thức đã nghe mụ hàng xóm chửi chõ sang kêu mất chiếc nồi đồng nấu rượu. Lập tức, chồng mụ nhảy qua bức tường đất thấp xông thẳng xuống bếp nhà mình lôi ngay ra chiếc nồi đồng rồi hô hoán vu cho cha cháu lấy trộm. Ngay lúc ấy, mấy người lạ mặt xông vào bắt trói rồi giải thẳng cha cháu lên nhà lao của Pháp trên tỉnh. Bà và mẹ cháu uất ức nhưng chẳng biết kêu vào đâu vì mụ hàng xóm ỷ thế anh trai nó là tên Tư Sơn khét tiếng tàn bạo. Nghe nói hắn còn làm chỉ điểm cho quan Tây. Sau gần ba tháng, cả nhà còn đang lo lắng chưa biết tính sao thì tin sét đánh ngang tai - cha cháu đã chết trong nhà lao.

- Trời ơi! Cha cháu có tội tình gì? Kẻ nào đã gây ra tội ác này?

Bà tôi thở dài:

- Vậy đấy! Kẻ có quyền có thế trong tay muốn làm gì mà chẳng được?

Bà ơi! Thế tại sao sau này mụ hàng xóm lại cho đứa con gái lớn làm con nuôi bà? Bà tôi im lặng, hai hàng nước mắt lăn trên gò má nhăn nheo. Nỗi đau mất con khiến đôi mắt bà tôi mờ đục. Năm tôi học lên cấp hai, bà tôi ốm nặng. Biết không qua khỏi, bà gọi tôi lại căn dặn:

- Cháu ơi! Cố mà học hành, sau này khôn lớn, muốn biết rõ mọi chuyện về cha cháu, hãy đến hỏi ông Nguyệt.

Ghi sâu lời dặn của bà, tôi gắng công học tập và trở thành cô giáo. Trong một lần về thăm quê, tôi đến gặp ông Nguyệt:

- Bác còn nhớ cháu không ạ?

Ông ngỡ ngàng rồi thốt lên:

- À! Ra con gái bố Lan! Cháu lớn quá! Càng lớn càng giống cha. Sau một lát trò chuyện, dường như hiểu thấu nỗi lòng tôi, ông đã kể tường tận cho tôi nghe về cha tôi:

- Bác và cha cháu cùng làm thợ sơn mài hơn mười năm. Cha cháu cần cù, chất phác, cương trực nên được mọi người yêu quý. Với bản tính ham học hỏi lại khéo tay nên đến năm 26 tuổi, cha cháu đã là thợ giỏi. Cuối năm 1943, phong trào cách mạng lan rộng, nhất là vùng Đình Bảng. Có cả những cán bộ cấp trên về nằm vùng để chỉ đạo phong trào. Bọn mật thám và tay sai luôn rình mò lùng bắt cán bộ hòng triệt phá phong trào. Một chiều, tan giờ làm đã khá muộn, cha cháu chưa về mà hình như vẫn ngóng đợi ai đó. Lát sau, một người đàn ông khuôn mặt xương xương, vầng trán cao, đôi mắt sáng đến gặp cha cháu. Hai người vội vã đi vào trong làng. Sáng hôm sau bác nghe tin: Nhà cháu vừa bị khám xét.

Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, người cán bộ bác gặp lần trước có đến tìm cha cháu. Biết cha cháu bị bắt giam và mất trong nhà lao, ông rất xúc động. Ông kể lại lần đi cùng cha cháu vào một cơ sở trong làng để họp bàn việc triển khai chỉ thị mới của cấp trên:

- Lúc đó, trời vừa nhá nhem tối, hai chúng tôi vừa đi, vừa thận trọng quan sát mọi động tĩnh. Đến gần địa điểm họp thì biết “có động” nên vội tìm đường rút. Ông Lan đi trước được một quãng, không may đụng phải bọn mật thám. Như thú giữ đánh hơi được mồi ngon, chúng liền hò nhau đuổi theo:

- Bắt lấy nó! Bắt lấy nó!

Lợi dụng trời tối đen, ông Lan lẩn ngay vào một nhà dân từng là cơ sở cách mạng và được dấu xuống hầm bí mật. Bọn chúng tưng hửng:

- Mẹ kiếp! Thế là xổng mất con mồi.

Nhờ ông Lan thu hút địch về phía mình, tôi và các đồng chí khác đã rút lui an toàn. Ông gửi lời chia buồn cùng gia đình và hẹn sẽ có dịp về thăm. Từ đấy không thấy tin tức gì về ông. Có lẽ, người cán bộ ấy cũng đã hy sinh trong kháng chiến chống Pháp. Đôi mắt ông Nguyệt đượm buồn nuối tiếc. Ông nhấp một ngụm nước rồi kể cho tôi nghe lần lên thăm cha tôi ở nhà lao. Sau gần một tháng bị bắt giam, sức khỏe của cha cháu giảm sút đi rất nhiều. Những vết bầm tím hằn lên khuôn mặt và khắp thân thể, tuy bước đi khó nhọc nhưng đôi mắt vẫn ánh lên niềm tin. Sau này bác có gặp lại một người tù quê ở Tam Sơn mà bác được biết trong một lần lên thăm cha cháu cùng với người nhà của ông. Ông đã kể lại: Tôi và ông Lan cùng bị cai ngục đưa lên phòng hỏi cung. Ông Lan bị mật thám tình nghi hoạt động bí mật, che dấu cán bộ cách mạng. Chúng không tìm được bằng chứng nên càng ra sức tra khảo:

- Mày đã hoạt động cùng những đứa nào? Đứa nào là chỉ huy? Lần nào ông Lan cũng chỉ một mực:

- Tôi không biết! Những trận dùi cui liên tiếp. Ông chết đi, sống lại nhiều lần nhưng kẻ thù vẫn không moi được thông tin nào. Chúng quay sang dụ dỗ, dọa nạt:

- Khôn hồn thì khai hết ra, không những được tha ngay mà còn được trọng thưởng. Nếu mày còn ngoan cố thì chỉ có chết mục xác. Ông Lan vẫn bình thản kiên quyết:

- Tôi chỉ biết làm thợ sơn. Ngoài ra không hoạt động gì, không biết ai là cán bộ cách mạng. Như thú dữ điên cuồng, chúng hùng hổ xông vào dùng giày đinh dẫm đạp liên hồi khiến máu mồm, máu mũi ông tuôn ra lênh láng. Những ngày sau đó, ông yếu dần. Mỗi lần cố ngồi gượng dậy, ông lại ôm ngực ho rũ rượi. Vào một đêm cuối tháng 3 năm 1944, trước khi trút hơi thở cuối cùng, ông còn trăng trối lại:

- Các anh em hãy giữ vững chí khí, cách mạng nhất định thành công. Kể đến đây, giọng ông Nguyệt trầm hẳn xuống ẩn chứa niềm tiếc thương vô hạn. Tôi cúi xuống nghẹn ngào. Ông ôn tồn động viên:

 

- Bác biết, đó là nỗi mất mát quá lớn với cháu nhưng trời có mắt. Tên cường hào Tư Sơn đã bị Việt Minh xử tử hình vì hắn đã gây ra quá nhiều tội ác với nhân dân, với cách mạng. Thế là nỗi oan của cha cháu đã được sáng tỏ. Cái chết của cha cháu cũng như bao chiến sỹ vô danh khác thật không uổng phí. Tạm biệt ông ra về, tôi bồi hồi xúc động buồn thương xen lẫn tự hào. Khi Nhà nước có chủ trương ghi công cho những người hoạt động trước Cách mạng tháng Tám, tôi rất tiếc là những nhân chứng cho cha tôi không còn nữa. Nhưng tôi lại thấy lòng mình chưa bao giờ thanh thản như lúc này. Sau bao năm day dứt, giờ đây tôi được biết rõ về cái chết của cha tôi. Tôi tự nhủ lòng mình: Hãy sống xứng đáng với cha bằng cách đem hết tâm huyết của mình cống hiến cho sự nghiệp giáo dục của Đảng. Tôi nguyện sẽ giáo dục cho con cháu, cho lớp học sinh về truyền thống cách mạng của các thế hệ đi trước. Viết lại cuộc đời cha tôi, cũng là thắp nén tâm nhang cho hương hồn người và cũng để tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với Đảng, với Bác Hồ đã đem lại cuộc sống hạnh phúc hôm nay./.

 

 TRẦN THỊ NINH