Trang chủ Mỹ thuật Lý luận

BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VÀ SỞ TRƯỜNG SÁNG TÁC TRANH HỘI HỌA
00:56 | 24/08/2016

Tôi đang sống trong môi trường Văn hóa Nghệ thuật của tỉnh Bắc Ninh và cũng tự hào Bắc Ninh có một tiềm năng dân ca quan họ - di sản văn hóa nhân loại; có làng tranh dân gian Đông Hồ; có chùa Bút Tháp đã được Nhà nước cấp bằng di tích văn hóa quốc gia đặc biệt; có thành cổ Luy Lâu mang dấu tích những khuôn đúc trống đồng; có làng gốm cổ Phù Lãng và những lò gốm cổ bên sông Ngũ Huyện Khê – Quả Cảm từ thế kỷ thứ X – XI; có nghề sơn mài truyền thống Đình Bảng, Trang Liệt, Tân Hồng; có nhiều tác phẩm khắc gỗ dân gian ở Đình Diềm, Đình Bảng; có tượng A-di-đà và những con thú đá ở chùa Phật Tích… Mỹ thuật của đời sống – đời sống của mỹ thuật đã góp phần tô đẹp cho Bắc Ninh một dấu ấn là mảnh đất ngàn năm văn hiến trong vùng quê Kinh Bắc.

Những tác phẩm mỹ thuật được trưng bày trong triển lãm hàng năm của khu vực đồng bằng sông Hồng vẫn mang tiêu chí Đẹp, rất Đẹp, Đẹp xuất sắc; mới hoàn thành được nhiệm vụ mà Đảng, nhà nước giao cho hội Mỹ thuật Việt Nam một trọng trách to lớn là góp phần xây dựng nền Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tiên tiến, hiện đại, giàu bản sắc dân tộc.

Trong phạm vi bài viết này, tôi xin bàn luận vấn đề chính là: Bản sắc Văn hóa dân tộc trong tác phẩm hội họa và sở trường sáng tác cho tranh hội họa.

 Về văn hóa dân tộc trong tranh sơn mài: Bắc Ninh đã có một lớp họa sỹ sơn mài và địa danh sơn mài Đình Bảng, Tân Hồng, Trang Liệt đã nổi tiếng trong nền văn hóa Kinh Bắc. Đương nhiên chất liệu sơn mài đã nổi tiếng từ lâu chắc đã là thế mạnh của Bắc Ninh. Có bản sắc dân tộc trong tay, họa sỹ sơn mài Bắc Ninh còn phải chuyển hóa như thế nào. Tôi không tường tận về nghề sơn mài và cũng không dám tiếp xúc lâu với chất liệu này vì sơn hay ăn mặt nên tôi xin mạn phép chỉ bình luận đôi điều về lĩnh vực này.

(Một nữ họa sỹ Nhật Bản đã đến với Hà Nội vì tình yêu mãnh liệt của mình với nghệ thuật sơn mài. Hình tượng Nghệ thuật trong tranh của họa sỹ Nhật Bản đã nâng lên tầm nhân loại. Tự đối thoại và dám đối thoại với cuộc đời về bản chất và bản ngã con người. Bún đậu mắm tôm ở Hà Nội họa sỹ đã thưởng thức nhiều lần và sang Việt Nam mới học vẽ sơn mài. Tìm đến bản sắc văn hóa Việt và cũng làm chủ thực thụ chất liệu sơn mài và bắt nó phải nói lên cái tâm lý sang tạo của mình. Dù tranh có thể là kích thước nhỏ những ngôn ngữ nghệ thuật lạ to tát bất ngờ.

Như thế họa sỹ sơn mài còn phải là Nhà văn hóa, Nhà tư tưởng, Nhà triết học thì tác phẩm mới có tầm thời đại, bản sắc chất liệu sơn mài mới đi về vị trí xứng đáng của nó và mang được tầm Siêu Việt. Bàn tay họa sỹ làm nhiệm vụ của người thợ sơn mài nhưng cái đầu họa sỹ lại phải là cái đầu của Nhà tư tưởng, Nhà triết học có tâm hồn nghệ sỹ.

Bàn về đời sống nghệ thuật dễ làm mất lòng người làm nghệ thuật nhưng vẫn cứ phải bàn để còn hy vọng mình còn lớn lên và tác phẩm của mình cũng nổi tiếng trên diễn đàn nghệ thuật.

Tác giả nuôi tác phẩm bằng tình cảm,vật chất và tri thức thì tác phẩm lại nuôi tác giả bằng giá trị tinh thần. Tác giả được sở hữu giá trị tinh thần thì tác giả sẽ tồn tại và được kính trọng. Đời sống văn hóa thấp thường coi trọng vật chất – Đời sống văn hóa cao lại coi trọng tinh thần.

Dân tộc Việt Nam chúng ta có sở hữu riêng về văn hóa nghệ thuật trống đồng nhưng không tìm thấy khuôn đúc trống đồng. Các nhà khoa học trong ngành khảo cổ học Nhật Bản đã phát hiện được khuôn đúc trống đồng trong địa tầng đất phủ của thành Luy Lâu. Sự kỳ diệu của một nền văn hóa nghệ thuật lớn lại gặp được nền văn hóa khoa học văn minh lớn thì mới tìm thấy hết giá trị. Sự kính trọng giá trị tinh thần của khoa học khảo cổ hiện đại đã hoàn thiện và khẳng định quyền sở hữu của Việt Nam về văn hóa nghệ thuật trống đồng có bề dày bốn nghìn năm lịch sử.

Hiện tượng Nhật Bản hóa sơn mài và Nhật Bản hóa các công nghệ khoa học là để giá trị của văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần được hoàn thiện và cũng nâng cao tinh thần quốc tế giữa Việt Nam và Nhật Bản trong thời kỳ đổi mới và hội nhập nhân ngày kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Nhật Bản – Việt Nam!

Trở lại lãnh địa sơn mài chắc các họa sỹ sơn mài đang trăn trở phải làm gì để tranh sơn mài có được hình tượng nghệ thuật đích thực của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trong nền nghệ thuật nhân loại.

Bản sắc văn hóa dân tộc trong tranh sơn dầu.

      Tranh hội họa sơn dầu của Bắc Ninh đã qua thời kỳ tranh cãi và bình luận vì các tác giả đã tự nhận thấy được mình qua nhiều năm tham gia triển lãm Mỹ thuật khu vực đồng bằng sông Hồng.

            Hiện tượng Việt Nam hóa sơn dầu đã có từ những năm thành lập trường Mỹ thuật Đông Dương, đến nay tranh hội họa sơn dầu của Bắc Ninh vẫn còn phải phấn đấu hết mình mới xứng đáng với danh họa Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn,… Bút pháp của tranh hội họa sơn dầu Bắc Ninh đang được hình thành rất phong phú, có nhiều khuynh hướng màu sắc văn hóa dân tộc dân gian và hiện đại. Tranh sơn dầu còn hạn chế vì không đi hết hai thái cực sáng tối, nông sâu, cao thấp, xa gần và lãng mạn trang nghiêm,… Hình tượng nghệ thuật của tranh sơn dầu Bắc Ninh chưa thoát để trở thành một tác phẩm hội họa lớn, chưa có bản chất và thần chất của đời sống con người Bắc Ninh.

            Sự nghiệt ngã của nghệ thuật là tác giả đã khẳng định được mình thì dễ tự đóng kín căn phòng của tâm lý sáng tạo nghệ thuật để rồi không tìm được sự đổi mới có thể gọi là lối thoát cho tâm lý sáng tạo. Nếu cứ tiến lên bằng cách đứng tại chỗ thì hóa ra thành nghệ sỹ giáo điều bảo thủ.

Bản sắc văn hóa dân tộc của chất liệu giấy dó, mực nho, khắc gỗ và tranh lụa có phần nào đã bị lãng quên trong đời sống hội họa Bắc Ninh. Có họa sỹ đã học về chất liệu này và cũng có ý tưởng làm lại chất liệu này rồi cũng chẳng thấy mặn mà gì. Họa sỹ vẫn phải làm nghề kiếm sống và bản sắc văn hóa dân tộc chỉ tồn tại tùy từng chất liệu theo cơ chế thị trường. Đời sống hiện đại vẫn phải tự bóc tờ lịch hàng ngày để đi đến tương lai.

Thang muốn lên cao thang phải tìm chỗ tựa

Ghế đã ngồi yên ghế chỉ tựa vào mình.

            Có nghệ sỹ tâm huyết quá trong sáng tác để rồi dẫn đến tiền mất tật mang mà các cụ bảo là lực bất tòng tâm để đi tìm sở trường sáng tác. Văn hóa dân tộc là vấn đề cơ bản mà tôi vẫn duy trì cho những tác phẩm treo ở triển lãm khu vực đồng bằng sông Hồng trong những năm qua. Tôi đã xây dựng được hình tượng con người Việt Nam trong thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ, con người cách mạng và con người lao động của quê hương tôi.

            Năm 2011 tại triển lãm Mỹ thuật Hải Phòng tôi được duyệt treo tác phẩm “Thơ của Bác Hồ trong ngục trung nhật ký”. Đây là bức tranh tĩnh vật thể hiện theo khuynh hướng siêu thực từ ý tưởng bài thơ Chia nước của Bác Hồ:

Mỗi người nửa chậu nước nhà pha

Rửa mặt pha trà tự ý ta

Muốn để pha trà đừng rửa mặt

Muốn đem rửa mặt chớ pha trà.

            Tác phẩm đã diễn đạt được không gian văn hóa phương đông và tư tưởng triết lý nhân văn của Bác Hồ khi Bác bị cầm tù trong nhà giam của chính quyền Tưởng Giới Thạch. Tư tưởng triết lý nhân văn của Bác có thể là kim chỉ nam cho đời sống của chúng ta trong thời đại Hồ Chí Minh.

            Bàn về sở trường sáng tác, nhiều khi thuật ngữ phong cách nghệ thuật đã làm mất đi sở trường sáng tác nghệ thuật hiện thực để thiếu đi tính hiện thực và đi vào khuynh hướng khoa trương, dàn trải thiếu tình cảm ở nhiều tác phẩm mà tác giả cho đấy là hiện đại. Mỹ thì ít – Thuật thì nhiều! Thậm chí cụm từ Văn hóa Nghệ thuật có thể là một thành ngữ cho tư duy lý luận sáng tác mà tôi đã từng trải nghiệm. Làm thế nào để Văn hóa thành Nghệ thuật? Đấy là sở trường sáng tác của tôi trong những năm qua. Vốn văn hóa càng nhiều thì nghệ thuật cũng càng nhiều, nghệ thuật ra đời từ sở trường sáng tác. Sở trường sáng tác có tư duy logic, có khoa học xã hội nhân văn, có triết học là phải gắn với đời sống hiện thực lịch sử và xã hội, tôi coi đó là bài học quý.

            Không được ngồi vào ghế của trường Mỹ thuật, tôi lại ngồi vào ghế tự học để trau dồi cho tư duy sáng tác và gắn bó tình cảm, vốn sống của mình vào tác phẩm – sở trường sáng tác phát triển thì tác phẩm nào cũng đứng được. Còn tránh được cái nạn tự lặp lại chính mình, tránh được cái nhìn của mình giống cái nhìn của người khác.

            Nghệ thuật thị giác mang lại cho đời sống mỹ thuật của chúng ta sự hoàn thiện, tác phẩm phải mang tính thời đại, mang dấu ấn của cuộc đời và số phận con người.

            Tôi xin cảm ơn sự cổ vũ chân tình của các bạn đồng nghiệp trên con đường sáng tác và hội nhập của tôi với môi trường Mỹ thuật Việt Nam. Tôi xin được kết thúc bài viết của mình bằng  bài thơ  "Trong tranh có đợi" mà tôi đã viết khi đi thực tế tại làng tranh Đông Hồ. Bài thơ định mệnh này đã dẫn tôi từ viết thơ để vào con đường vẽ tranh hội họa:

Cuộn tròn tờ tranh nhỏ

Sợi rơm mùa buộc ngang

Tranh xuân treo đầu quang

Có nặng vai mẹ gánh.

 

Rập rình như đôi cánh

Mang niềm vui chợ làng

Trong tranh gà có hẹn

Từ làng Hồ bay sang.

 

Nén hương trầm đong khói

Nải chuối giục chín vàng

Trong tranh gà có đợi

Sang giao thừa gáy vang./.

Vũ Hữu Vượng