Trang chủ Sân khấu Lý luận

BÁC THỢ CÀY RA THỦ ĐÔ LĨNH PHẦN THƯỞNG VỞ CHÈO “PHẦN THƯỞNG”
08:16 | 07/12/2016

 Nguyễn Văn Chương

Đáng lẽ lễ trao giải cuối 1972 nhưng 12 ngày đêm tháng Chạp năm ấy Hà Nội có “Trận Điện Biên Phủ trên không” nên hoãn vào ngày 27 tháng 2 năm 1973 (tức 25 tháng Giêng/ Quý Sửu). Nghĩa là cách đây vừa tròn 35 cái tết, bác thợ cày Nguyễn Duy Hợp khăn gói ra thủ đô lĩnh giải… Cầm bút dĩ nhiên bằng tay phải rồi.Nhưng với ông, cầm cày để lấy công điểm mới có thóc nuôi mẹ già con nhỏ. Thỉnh thoảng nỗi nhớ thi thư cứ cồn lên đến mất ngủ lại chong đèn. Thôi thì cũng cứ xem như làm thêm bằng… tay trái! Bây giờ ông đã thành danh rồi, đã nhiều lần lĩnh giải từ cấp tỉnh đến cấp trung ương nhưng thuở ấy còn hàn vi lắm. Vướng một chút lý lịch, Nguyễn Duy Hợp đành xếp mảnh bằng lớp bẩy vào đáy hòm và ở nhà làm ruộng. Khi có phong trào hợp tác hóa nông nghiệp từ một tiểu nông, ông được “vinh thăng” thành xã viên HTX. Con trâu đi trước con người theo sau hàng chục năm, ông được cử làm thư kí đội. Cần cù, công tâm, bà con tín nhiệm, bầu ông làm đội trưởng sản xuất. Sáng láng, giàu kinh nghiệm, nhanh nhạy triển khai kĩ thuật “cây và con”, ông lại được bầu vào ban kế hoạch của HTX. Giắt lưng được tí chữ nghĩa (cựu học sinh trường Nguyễn Gia Thiều, Gia Lâm, Hà Nội), lại có chất men kích thích là mấy anh bạn vừa họ nội, vừa láng giềng có bài trên đài, trên báo luôn. Trăm cái đấm không bằng cái đạp, lần này ông làm ăn lớn, làm việc bằng hai, ngày cầm cày, đêm cầm bút. Chuyện thế này: Nhân kỉ niệm 20 năm thành lập ngành thương nghiệp quốc doanh (1971), tuần báo Văn nghệ đăng tin: Bộ Nội thương và Công đoàn thương nghiệp VN cộng tác với Hội nhà báo, báo Văn nghệ và NXB Lao động mở cuộc vận động sáng tác về đề tài thương nghiệp phục vụ sản xuất, chiến đấu và đời sống. Buồn ngủ gặp chiếu hoa. Sẵn kịch bản văn học vở chèo “Phần thưởng” (một màn), ông viết cho đội văn nghệ xã nhà đi dự hội diễn sân khấu, mang về đến mấy HCV, trong đó có HCV cho tác giả kịch bản. Thừa thắng xốc tới. Ông gửi vở chèo dự thi. Và trúng giải. Ông được bắt tay, cụng ly với Bộ trưởng Nội thương Hoàng Quốc Thịnh; được trao đổi bếp núc nghề nghiệp với chuyên gia sân khấu chèo, nhà thơ Trần Huyền Trân. Vị trưởng lão hết lời khen ngợi: Nào là kết cấu gọn, hợp thời chiến; nào là đề tài độc đáo; nào là đúng mục đích cuộc thi: Ca ngợi công lao của ngành nội thương XHCN; nào là chủ đề sâu, đa dạng, phê phán nhẹ nhàng một số người tư lợi, thiếu ý thức làm chủ và bảo vệ của công; nào là giàu kịch tính, vừa vui, vừa có hậu là chất của chèo… Nghe ông anh dạy bảo mà sướng run người và ngượng nữa. Cũng là số cả. Khi lên giời cũng chiều người. Làng nhà văn Nguyễn Hữu (em nuôi ông Hợp) lúc ấy xảy ra một chuyện tức cười nhưng vì lí do tế nhị, Hữu không dám viết, bèn biếu ông anh cốt truyện “vàng ròng bạc trảy” có thật một trăm linh một phần trăm. Làng TK có con trâu đẹp lắm “Sừng cánh ná/dạ bình vôi/mắt ốc nhồi/tai lá mít”. Con trâu có quý tướng: “Đùi trường, ức rộng, háng to/Cổ cò, mũi nhỏ, đuôi thò nụ thông/Dưới trên bốn xoáy mượt lông/Tiền cao hậu thấp vai vồng vừa khỏe, vừa nhanh”. Thế nhưng bác thợ cày ốp trâu sớm mai tối mịt để tăng diện tích (là tăng công điểm). Cô cắt cỏ thì dìm cỏ xuống nước cho nặng cân. Chị nộp rơm ngoài khô trong ướt. Bà có chuồng đã được khoán công điểm lại xúc trộm cám tiêu chuẩn của trâu cho lợn nhà ăn. Rồi muỗi. Rồi rận. Rồi đỉa. Con trâu là đầu cơ nghiệp mà kiệt sức. Lập tức họ bàn nhau dao bầu thớt nghiến. Quản trị quan liêu bảo thôi thì bán cho cửa hàng thực phẩm tươi sống rồi mua con khác (lại có thể ăn bớt tiền). Ông cán bộ thương nghiệp vốn xuất thân con nhà lão nông tri điền, lại nhớ nhời người xưa bảo: Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà/Trong ba việc ấy thực là khó thay! Tậu trâu khó số một. Mà con trâu quý tướng thế này… Sao gầy quá, làm gì có thịt? Sẵn bãi cỏ non hãy thả chăn dăm bữa nửa tháng xem sao. Đang suy dinh dưỡng, trâu lại sức từng ngày và thoát chết. Nhưng không chỉ có thế. Kịch tính còn ở chỗ chính nơi trâu ra đi, năm đó lại có thành tích làm thủy lợi. Lãnh đạo huyện biết chuyện, tương kế tựu kế, cho trâu hoàn cố chủ làm phần thưởng. Vở chèo có hậu. Giải thưởng quốc gia thời chiến cũng đơn giản thôi. Một cái bút máy Kim Tinh, một quyển sổ bìa cứng chữ nổi mạ vàng, trang đầu có thủ bút, chữ kí và con dấu của ông Bộ trưởng, một đồng hồ báo thức Trung Quốc có con gà gật gù mổ thóc và 50 đồng tiền mặt (tương đương một tháng lương cán bộ trung cấp có 5 năm tay nghề trở lên đấy!). Nguyễn Duy Hợp năm ấy có hai lần Tết./.